+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 10 trên 10
dqw
  1. #1
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Lịch sử Nam Định

    Nam Định thời tiền sử

    Khảo cổ học
    Cùng với quá trình biển lùi, các con sông chảy trên vùng đất cổ Nam Định chuyên chở phù sa từ thượng nguồn về lấp đầy các vụng biển. Vùng đồng bằng châu thổ dần hình thành, con người nguyên thuỷ cũng từ rừng sâu núi cao tiến xuống khai phá đồng bằng. Họ phá rừng lập làng trên những doi đất cao ở ven các triền sông. Nghề trồng lúa nước cũng ra đời từ đó.



    Trên đất Nam Định, dấu tích con người ở thời kỳ này còn lưu lại ở các dãy núi thuộc huyện Vụ Bản và huyện Ý Yên nằm về phía tây bắc của tỉnh. Tại đây đã tìm thấy những chiếc rìu đá có vai mài lưỡi, các hòn nghè, chày đá và bàn nghiền. Đó là những dấu tích của những cư dân thuộc thời kỳ đồ đá mới hoặc sơ kỳ đồ đồng đã từ vùng rừng núi tiến xuống khai phá vùng đồng bằng ven biển để sinh sống và dần dần tiến tới lập các làng xóm. Vào lúc cực thịnh của thời kỳ đồ đá, ở tỉnh Nam Định cũng như nhiều địa điểm khác trên đất nước, đã nở rộ những nền văn hoá nguyên thuỷ. Ngoài kinh tế hái lượm những sản phẩm sẵn có trong tự nhiên, người nguyên thuỷ trên đất Nam Định đã bắt đầu sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm.
    Tỉnh Nam Định nằm về phía nam đồng bằng châu thổ sông Hồng. Huyện Vụ Bản và các huyện Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, thành phố Nam Định là các địa phương nằm về phía bắc tỉnh thuộc vùng đất cổ, đất đai tương đối ổn định và không màu mỡ bằng đất đai của các huyện phía nam. Địa hình huyện Vụ Bản không hoàn toàn bằng phẳng. Dọc phía tây huyện có dãy núi đất lẫn đá, chạy từ bắc xuống nam với sáu ngọn núi Ngăm, núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi và núi Hổ.
    Vụ Bản nằm kẹp giữa sông Đào và sông Sắt chạy dài theo hướng Bắc Nam. Sông Sắt còn gọi là sông Ba Sắt hay sông Kim Xuyên, nối liền giữa sông Châu với sông Đáy. Sông Đào ở phía đông của huyện, một đầu nối với Sông Hồng và cũng đổ ra sông Đáy. Ngoài ra trong các huyện còn có các con sông nhỏ là sông Vĩnh Giang và sông Cốc. Các con sông này đều là đường thuỷ quan trọng của huyện Vụ Bản nối liền giữa sông Đáy với sông Hồng ở nhiều ngả. Chính vì vậy, mảnh đất này được hình thành trong quá trình biển lùi từ hàng vạn năm về trước và do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi đắp nên.
    Thành tựu khảo cổ học trong những năm gần đây đã chứng minh tất cả những quả núi ở huyện Vụ Bản đều có dấu vết con người nguyên thuỷ sinh sống. Họ ở trên các bãi rộng ven chân núi hoặc các gò đống cao, khi cần tránh bão lụt thì vào cư trú trong hang động. Họ sống thành từng cộng đồng, dần dần lập thành đơn vị tự cu giốnh như các bản làng gần nơi sản xuất
    Núi Gôi thuộc địa phận xã Tam Thanh, cách núi của Kim Thái khoảng 2km. Đây là một qủa núi nằm đơn độc nổi lên giữa đồng bằng, có độ cao 60m và có chiều dài 500m theo chiều bắc – nam. Núi Gôi án ngữ đường 10 và đường 56. Cho đến nay, người ta vẫn còn lưu truyền câu cửa miệng “Côi Sơn hải khẩu” (Cửa biển núi Gôi). Tại đầu núi phía tây bắc trước đây có đền thờ Độc cước vị thần chuyên giúp dân đi biển được bình an. Tại chân núi đã tìm thấy một số rìu có vai, cuốc có vai và bôn tứ diện. Tất cả các công cụ này đều được mài nhẵn toàn thân, chế tác từ loại đá badan và đá trầm tích hạt mịn có vân vàng sẫm.
    Các công cụ này chuôi đều ngắn, thân dài hình chữ nhật, vai gần ngang, có chiếc hai vai bị lệch. Đây là loại hình phổ biến trong các di tích thuộc giai đoạn cuối đá mới và buổi đầu kim khí ở ven biển phía bắc Việt Nam.
    Hiện nay, ở núi Gôi chưa tìm thấy dấu vết tầng văn hoá, nhưng căn cứ vào vị trí phát hiện các di vật đá có thể đoán định tầng văn hoá sẽ nằm ở phía tây núi Gôi, nơi đã bị phá do quá trình khai thác đá và cát trong nhiều năm vừa qua.
    Qua điều tra khảo cổ học trong tháng 7 – 2001 ở núi Ngô Xá và núi Phương Nhi, bước đầu đã phát hiện được một số di vật đá mới. Tại đây, đã tìm thấy một chiếc rìu còn nguyên vẹn hình thang có hai vai vuông nhưng không cân đối. Rìu được làm từ loại đã mịn màu gan gà, mài nhẵn toàn thân, chưa xoá hết dấu vết ghè đẽo. Đây là chiếc rìu khá hoàn thiện từ chất liệu cũng như kỹ thuật chế tác. Trên đỉnh núi Phương Nhi cũng đã tìm thấy một chiếc rùi đá hình thang cân, làm bằng đá màu xám mốc, mài nhẵn toàn thân, lưỡi bị mẻ.
    Trong tất cả các di chỉ văn hoá nằm rải rác tại các quả núi ở huyện Vụ Bản đều phát hiện được nhiều đồ gốm làm bằng bàn xoay. Đó là những thứ đồ dùng hàng ngày như nồi, niêu, vò, hũ, bát và những đồ đựng khác. Trên nhiều đồ gốm đã có trang trí hoa văn. Người xưa đã biết buộc dây vào chiếc bàn dập rồi dập lên gốm khi đất còn ướt hoặc dùng que nhọn vạch lên đồ gốm những hình trang trí mà ta thường gặp ở phần vai hay phần cỏ của đồ đựng gạch. Trong kỹ thuật, người ta pha nhiều cát thô vào đất sét để làm gốm. Những loại gốm này có loại xốp và có loại chắc.
    Có một hiện tượng lạ là mặc dù vào thời kỳ đó, vùng này nằm gần biển, nhưng chưa hề phát hiện được một đống vỏ sò, vỏ hến nào. Đây là điểm khác biệt với các cư dân ven biển ở các nơi khác.
    Như vậy là vào cuối thời đại đá mới khoảng 5000 – 6000 năm cách ngày nay, cùng với phần lớn các bộ lạc nguyên thuỷ trên đất nước ta, cư dân cổ trên đất Nam Định đã tiến đến giai đoạn nông nghiệp trồng lúa nước. Khi phù sa các con sông dần lấp đầy vụng biển, vùng châu thổ hình thành thì con người từ rừng sâu, núi cao ở phía Bắc, từ vùng hải đảo phía đông và ven biển phía nam chuyển tới khai phá đất đai, lập nên làng xóm trên những doi đất ven sông, ven biển. Với sự phát triển của nông nghiệp dùng cuốc, chủ nhân các di chỉ văn hoá trên vùng đất cổ thuộc Vụ Bản, Ý Yên đã cùng với cư dân trên nhiều vùng văn hoá khác của châu thổ sông Hồng bước vào một thời kỳ lịch sử mới./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  2. #2
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Nam Định thời dựng nước

    Trống đồng Ngọc Lũ Dưới thời Hùng Vương, đời sống kinh tế của cư dân vùng đất Nam Định đã có những biến chuyển đáng kể. Nghề trồng lúa nước, nghề chăn nuôi, nghề làm gốm và nghề chế tác đá đều có những bước phát triển mạnh mẽ


    Đặc biệt là sự xuất hiện của nghề luyện kim, đúc đồng. Lúc này tuy công cụ sản xuất bằng đá vẫn còn nhiếm ưu thế và kinh tế khai thác còn giữ vị trí quan trọng, nhưng công cụ bằng đá từng bước được thay thế dần bằng những công cụ đồng thau và sau đó là đồ sắt. Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề, trong đó nông nghiệp trồng lúa nước trở thành nghề chính.
    Nằm trong cương vực nước Văn Lang của các Vua Hùng trải dài từ miền trung du đến miền đồng bằng ven biển, vùng đất Nam Định khi ấy tương đương với đất các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, thành phố Nam Định và phần phía bắc của huyện Nam Trực hiện nay. Theo ngọc phả đền thờ Tam Bành ở thôn Bảo Ngũ, xã Quang Trung thì vào đời vua Hùng Vương, huyện Vụ Bản có tên là huyện Bình Chương thuộc bộ Lục Hải, là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Huyện Bình Chương lúc đó nằm sát biển. Tại đây có cửa biển Côi Sơn (Núi Gôi) mà dấu vết còn lại đến ngày nay là địa danh cồn Dâu, cồn Cói ở các vùng quanh chân núi.
    Cùng với các nghề trồng lúa nước, trồng rau củ và hoa quả thì những ngành kinh tế khai thác vẫn giữ vai trò quan trọng. Tại di chỉ núi Hổ, trong các di vật tìm được có nhiều mũi tên bằng đá và xương động vật. Cách đó không xa tại hang Lồ (núi Lê) cũng tìm thấy khá nhiều các loại xương thú khác nhau. Săn bắn bổ sung nguồn thức ăn nhiều dinh dưỡng cho con người, đồng thời cung cấp da, xương, sừng cho một số nghề thủ công như chế tạo đồ trang sức, đồ dùng, vũ khí.
    Năm 1963, tại núi Mai Độ (còn gọi là núi Hình Nhân) thuộc xã Yên Tân, huyện Ý Yên đã phát hiện một số hiện vật đồng có giá trị. Núi có 4 đỉnh, đỉnh cao nhất cao 52m. Đây là núi đá có lẫn đất, không có cây cao, trên mặt chỉ phủ một lớp cỏ mỏng. Sườn phía đông có một khoảng đất tương đối bằng phẳng, rộng độ 2 sào, nguyên trước có một kiến trúc tôn giáo không biết của đời nào vì đã bị phá hủy từ lâu. Cách nhân núi về phía Tây 400m là thôn Mai Độ, phía Đông là thôn Mai Sơn, xung quanh núi là cánh đồng chiêm. Các hiện vật đồng được phát hiện gồm có dao, giáo và rìu.
    Vào những năm cuối thể kỷ XIX, nhân dân xã Thanh Côi, nay thuộc trị trấn Gôi, huyện Vụ Bản, khi đào đất đắp đường đã phát hiện ba chiếc trống đồng lớn, nằm cách chân núi Gôi khoảng 400m. Chiếc thứ nhất đã bị những người tìm thấy đập vỡ nát, chiếc thứ hai viên Công sứ Nam Định thời đó đã lấy đi, còn chiếc thứ ba được những người đắp đường đưa cúng vào đền thờ Lữ Gia ở chân núi. Sau này bảo tàng Nam Định đã sưu tầm đưa về kho bảo quản. Trống đồng này có thể xếp vào loại I điển hình của nền văn hóa Đông Sơn, hiện vật tiêu biểu cho thời đại các vua Hùng. Cho đến nay đây là địa điểm duy nhất tìm thấy trống đồng tại Nam Định. Việc phát hiện ra một sưu tập trống đồng ở chân núi Gôi đã khẳng định chủ nhân của những hiện vật này đã định cư ổn định tại địa phương. Đó là một bộ phận cư dân nước Văn Lang trong thời đại dựng nước trên đất Nam Định.
    Trống Ngọc Lũ được các nhà khảo cổ học xếp vào loại I là loại cổ nhất, đẹp nhất và tiêu biểu nhất của các loại trống đã tìm thấy ở nước ta. Chiếc trống này được phát hiện tại đình làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam vào năm 1902. Làng Ngọc Lũ nguyên trước có tên là làng Kim Lũ thuộc tổng Ngọc Lũ, huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định. Trên mặt, thân và tang trống đồng phát hiện ở Ngọc Lũ cũng như ở Côi Sơn đều có nhiều họa tiết đẹp như hình mặt trời, hình hươu, hình nai, cảnh người…Đây chính là cảnh sinh họat của những cư dân cổ được thể hiện cách điệu trên một tác phẩm nghệ thuật. Cảnh những tốp người ăn mặc chỉnh tề vừa đi vừa múa có khèn và trống đệm theo, cảnh những đoàn thuyền đua là những lễ nghi phong tục quen thuộc của những cư dân nông nghiệp cho đến nay vẫn còn tồn tại trong các hội làng trên đất Nam Định.
    Những công xã nông thôn sau này được gọi là làng, xã nhưng trước đây còn có tên cổ hơn như kẻ, chạ. Tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản một số làng, xã trước đây còn có tên là kẻ, như Kẻ Dầy để chỉ làng An Thái, Kẻ Bảng để chỉ làng Kim Bảng.
    Về sự nghiệp chống ngoại xâm của cư dân Văn Lang trong buổi đầu dựng nước, dấu ấn sâu sắc nhất trong ký ức mỗi người dân Việt là cuộc chiến đấu chống giặc Ân. Hình ảnh Thánh Gióng đã trở thành biểu tượng cho ý chí quật cường và sức vươn lên mãnh liệt của một cộng đồng cư dân nhỏ bé nhưng kiên quyết đánh thắng một đạo quân xâm lăng hùng mạnh. Cùng theo đoàn quân của Phù Đổng Thiên Vương đi đánh giặc, có nhiều vị tướng là người đất Nam Định đã lập công lớn. Tại làng Hạnh Lâm, xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản có bà Minh Quang sinh hai con trai là Minh Quang và Minh Tân. Khi giặc Ân sang xâm lăng bờ cõi bà đã cho hai người con của mình theo Thánh Gióng đánh giặc và đã lập được nhiều công lớn. Con trai huyện lệnh Bình Chương là Hương Đào sinh ra và lớn lên ở làng Hồ Sơn (nay thuộc xã Liên Minh, huyện Vụ Bản), được Vua Hùng phong cho chức phó vương đi theo đoàn quân của Thánh Gióng đánh giặc Ân. Giặc tan đoàn quân của Hoàng Đạo lại trở về quê. Tham gia đoàn quân của Thánh Gióng còn có ông Trình Lang, người xã Nam Thái, huyện Nam Trực, nay vẫn được thờ ở các đền Bắc Hà, Nam Hà, Xuân Dương. Có một hiện tượng rất đáng được đi sâu nghiên cứu là thần tích trong nhiều làng xã Nam Định nhắc tới cuộc chiến giữa triều Hùng và nhà Thục. Tại các huyện Vụ Bản, Ý Yê, nhân vật được thờ nhiều nhất, có liên quan nhiều đến cuộc chiến này là Thánh Tản Viên. Theo thần tích, hàng loạt tướng lĩnh ở vùng Nam Định đã quy tụ xung quanh nhân vật này.
    Thời đại Hùng Vương đã mở đầu kỷ nguyên văn minh của dân tộc. Lịch sử Việt Nam từ đó đến nay luôn là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, nhân dân các làng, xã của Nam Định đã đời đời kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của ông cha, góp phần viết nên những thiên anh hùng ca bất hủ cho quê hương đất nước./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  3. #3
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên đất Nam Định


    Dưới ách đô hộ của nhà Đông Hán, nhân dân Âu Lạc càng bị áp bức bóc lột nặng nề hơn. Năm 34, Tô Định thay Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, nổi tiếng là kẻ tàn bạo tham lam...



    Tô Định ra sức đốc thúc nhân dân nộp, cống, thuế. Chúng thẳng tay trừng trị những người có tư tưởng và hành vi chống lại chính quyền. Mâu thuẫn giữa tầng lớp nhân dân Giao Chỉ với chính quyền đô hộ nói chung và cá nhân Thái thú Tô Định nói riêng ngày càng sâu sắc.
    Đầu năm 40, cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã bùng nổ ở Hát Môn (cửa sông Hát, huyện Phúc Thọ, Hà Tây). Dưới ngọn cờ của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, nhân dân cả nước đã nổi dậy hưởng ứng.
    Hòa cùng phong trào đấu tranh chung của cả nước, nhân dân Nam Định mà tiêu biểu là những người phụ nữ đã hăng hái tham gia và nhanh chóng đứng dưới cờ nghĩa của Hai Bà chiến đấu chống lại chính quyền đô hộ nhà Hán, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tại Nam Định hiện còn rất nhiều di tích thờ phụng các nhân vật tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
    Theo tư liệu lịch sử hiện có, Nam Định có tới hơn 20 tướng lĩnh cả nam lẫn nữ tham gia cuộc khởi nghĩa này. Dấu tích về các tướng lĩnh tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng tập trung nhiều ở huyện Vụ Bản.
    Tại thôn Giáp Nhất, xã Quang Trung, huyện Vụ Bản có đền thờ bà Đào Quý Nương. Theo thần tích, bà là một nữ tướng đã chiêu binh tụ nghĩa, kéo về Hát Môn cùng Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống giặc. Sau cuộc khởi nghĩa giành được thằng lợi ban đầu, Đào Quý Nương được phong làm Giám sát nguyên súy, phong hiệu là Công chúa. Khi Mã Viện kéo quân sang đàn áp, nghĩa quân không đủ sức chống lại, bà đã cùng tuẫn tiết theo Hai Bà Trưng.
    Ở thôn Vậy, làng Bối La, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản có hai chị em bà Đỗ Thị Dung và Đỗ Quang. Do căm thù Tô Định tàn ác đã sát hại cha mình, hai chị em ra sức tập luyện võ nghệ, tích trữ lương thực để phục thù. Được tin Hai Bà Trưng dấy quan ở Hát Môn, hai chị em cùng 300 nghĩa sĩ đã kéo quân về Hát Môn yết kiến. Thấy Đỗ Quang là người có trí dũng tài ba, bà Trưng phong làm Đại tướng quân lĩnh ấn tiên phong. Còn Đỗ Thị Dung được phong làm Nữ tướng quân. Sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, hai chị em được Hai Bà Trưng phong thưởng.
    Xã Tân Dân, huyện Vụ Bản có đền thời bà Mai Thị Hồng là một trong những nữ tướng của Hai Bà Trưng đã được nhiều nguồn tư liệu nhắc đến. Bà sinh trưởng trong một gia đình nông dân cần cù, chuyên làm việc thiện, tính tình khảng khái, không chịu để ai lấn áp mình, hay bênh vực chị em phụ nữ. Sau khi chồng là Du Lang bị bọn phong kiến phương Bắc sát hại, bà quyết một lòng chống giặc đền nợ nước, trả thù nhà, đã cùng trai tráng trong làng luyện tập võ nghệ, tích trữ binh mã, thanh thế ngày một mạnh. Được biết tin này, Bà Trưng Trắc đã cử Trưng Nhị xuống thuyết phục để cùng hợp sức chống quân thù. Sau khi hợp quân với Hai Bà Trưng, Mai Hồng được phong là Hồng Nương tỳ tướng.
    Sự tích về những nhân vật trên đây phần lớn được ghi lại trong các thần phả, thần tích nên nhiều chi tiết đã được hư cấu qua lăng kính của tâm thức dân gian. Nhưng hiện tượng tướng của Hai Bà được thờ ở nhiều nơi và giành được trọn niềm tôn kính của nhân dân địa phương qua nhiều thế hệ chứng tỏ cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo thực sự diễn ra và có ảnh hưởng sâu đậm ở vùng đất Nam Định. Nhân dân địa phương đã có những đóng góp to lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu Công nguyên, có tính chất như một định hướng, mở đường cho công cuộc giành độc lập của nhân dân ta sau đó./.

  4. #4
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Hoàng Tề trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí


    Sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nhà Hán lập lại ách thống trị trên đất nước ta. Chúng bãi bỏ chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt, cử quan người Hán sang cai trị tới cấp huyện. Thời kỳ này, Nam Định vẫn thuộc quận Giao Chỉ.



    Từ năm 220 đến năm 280, Trung Quốc xảy ra cục diện Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô). Dưới ách cai trị của nhà Ngô, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Nam Định bị bóc lột hết sức tàn bạo. Để phục vụ cho cuộc chiến tranh phe phái trong nước, chính quyền nhà Ngô đã tìm mọi thủ đoạn để vơ vét của cải. Sống trong cảnh thống trị hà khắc đó, người dân Nam Định cũng như nhân dân cả nước đã khéo léo và kiên quyết chống lại chúng để bảo vệ và phát triển lực lượng dân tộc.
    Năm 542, Lý Bí nổi dậy chống ách đô hộ của nhà Lương. Sau bốn năm chiến đấu anh dũng, cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi, Lý Bí lên ngôi, xưng Hoàng đế, xây dựng nước Vạn Xuân độc lập. Đóng góp vào cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế, Nam Định có tướng quân Hoàng Tề ở làng Lập Vụ (nay thuộc xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản). Sinh ra trong một ra đình chài lưới, Hoàng Tề có tài bơi lội trên sông. Mồ côi cha từ rất sớm lại lớn lên trong cảnh mất nước, phải chứng kiến cảnh nhân dân ta bị bọn đô hộ áp bức tàn bạo, Hoàng Tề sớm có lòng căm thù giặc sâu sắc. Hằng ngày ông ra sức tập luyện võ nghệ, bênh vực người nghèo khó, nuôi chí đánh đuổi giặc. Đã nhiều lần, ông cùng nhân dân đánh đuổi bọn quan quân đô hộ về cướp phá trong vùng.
    Được tin Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, Hoàng Tề đã vận động được nhiều người gia nhập nghĩa quân. Với sức khỏe phi thường, tài võ nghệ và mưu trí, ông đã chiến đấu rất dũng cảm, lập được nhiều chiến công. Ông được Lý Bí phong Túc vệ tướng quân, ban gươm báu và luôn cho theo hầu bên mình.
    Khi Lý Bí qua đời, Hoàng Tề theo Triệu Quang Phục chiến đấu trong căn cứ đầm Dạ Trạch (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Sau đó ông bị bệnh mà mất. Triệu Quang Phục và quân sĩ vô cùng thương tiếc.
    Dưới sự chỉ huy của Triệu Quang Phục, các đạo quân tiếp tục khởi nghĩa chống giặc. Tại vùng đất Nam Định còn để lại nhiều dấu tích về cuộc khởi nghĩa này với hàng trăm điểm có đền thờ, như ở làng Giáp Ba, Đồng Quỹ (huyện Nam Trực), làng Phúc Chỉ (huyện Ý Yên)...Riêng huyện Giao Thủy có trên 20 nơi lập đền thờ ông.
    Trải hơn một nghìn năm sống dưới ách thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc, dân tộc ta luôn luôn đứng dậy đấu tranh giành độc lập dân tộc. Hòa chung với phong trào đấu tranh của cả nước, nhân dân Nam Định mà tiêu biểu là các tướng sĩ có tên tuổi thời Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục... đã cống hiến phần xương máu của mình vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Những tấm gương đó là niềm kiêu hãnh, tự hào của nhân dân Nam Định và trở thành một truyền thống quý báu của địa phương, thể hiện tinh thần kiên cường bất khuất và sức sống mãnh liệt của nhân dân Nam Định nói riêng, của dân tộc ta nói chung. Nhờ tinh thần đó mà nhân dân ta đã giành lại độc lập vào thế kỷ thứ X./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  5. #5
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Vùng đất Nam Định dưới thời Ngô - Đinh - Tiền Lê

    Lăng Ngô Quyền
    Ngô Quyền sinh năm 898 tại làng Đường Lâm, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, trưởng thành ở vùng Châu Ái (Thanh Hóa) và tuổi trẻ có nhiều gắn bó với vùng đất duyên hải cửa sông Đáy, sông Hồng.



    Sinh ra và lớn lên trong những năm đất nước vươn lên mạnh mẽ khẳng định quyền tự chủ, giành và giữ nền độc lập dân tộc, Ngô Quyền sớm bộc lộ tài năng kiệt xuất và trở thành một vị tướng trẻ nổi tiếng, được nhân dân quý mến khâm phục.
    Sau khi Ngô Quyền mất, các con cháu của ông không đủ uy tín và tài năng để duy trì chính quyền quân chủ tập trung đang còn trong thời kỳ trứng nước. Vùng hạ lưu sông Hồng khi đó chịu sự chi phối của sứ quân Trần Lãm. Đất Nam Định dần trở thành nơi hội tụ và đối đầu quyết liệt của hào khí bốn phương. Đinh Bộ Lĩnh – người anh hùng “tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời”, tự nhận về mình sứ mệnh thiêng liêng dẹp loạn, thống nhất đất nước – không thể không tìm về vùng đất duyên hải cửa sông này.
    Các sách Thiên hạ bản đồHồng Đức bản đồ đều đánh dấu vị trí của huyện Giao Thủy nằm ngay bên bờ con sông lớn, phía trên là ngã ba Vàng và huyện Thượng Nguyên, phía dưới là phủ Thiên Trường. Căn cứ vào các tấm bản đồ nàu mà suy xét thì đến cuối thế kỷ XV, huyện Giao Thủy vẫn còn nằm ở khu vực huyện Nam Trực hiện nay.
    Lê Hoàn không phải người Nam Định, nhưng lại gắn bó với Nam Định từ rất sớm, lập được nhiều chiến công và được vua Đinh đặc biệt tin dùng. Nhiệm vụ chủ yếu của Lê Hoàn là giúp vua Đinh xây dựng đội quân 10 đạo. Đến khi Đinh Tiên Hoàng bị sát hại, con còn nhỏ. Trước nguy cơ tiến công xâm lược của nhà Tống, Thái hậu Dương Vân Nga và các triều thần đã suy tôn Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đảm lãnh sự nghiệp tổ chức cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Huy động lương thảo phục vụ cho chiến trường là một nhiệm vụ đặc biệt cần kíp. Dương Thái hậu đã nhận với Lê Hoàn đứng ra đảm trách công việc này và địa bàn vận động chính là vùng đất Nam Định.
    Cuộc kháng chiến chống Tống của nhà Tiền Lê cuối cùng đã kết thúc thắng lợi oanh liệt bằng trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng. Đại thắng Bạch Đằng mùa xuân năm 981 là chiến công thần kỳ của dân tộc Việt Nam ta, trong đó có sự đóng góp xứng đáng của người dân Nam Định.
    Sau chiến thắng, người dân vùng đất Nam Định lại tiếp tục cầy ruộng, đánh bắt cá và làm muối, dân Vỵ Khê tiếp tục vườn hoa, dân xứ La Xuyên đến sửa sang thành quách và cung điện./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  6. #6
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Nam Định từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV


    Các triều Ngô – Đinh và Tiền Lê đã có công lao lớn trong việc bảo vệ nền độc lập còn non trẻ. Cùng với sự chuyển mình của cả nước, Nam Định vốn là vùng đất căn bản dưới thời Ngô, Định và tiền Lê đã nhanh chóng trở thành vùng trọng yếu của quốc gia Đại Việt thời Lý.



    Nằm trong lộ Hải Thanh, phủ Ứng Phong, về đại thể, vùng đất này tương đương với đất của các huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực và một phần của huyện Trực Ninh, Nghĩa Hưng hiện nay.
    Tại chùa Nghĩa Xá (Viên Quang Tự), xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường hiện còn lưu giữ được một tấm bia thời Lý có tên Viên Quang tự bi minh tính tự. Theo nhân dân địa phương và ý kiến các chuyên gia nghiên cứu, chùa vốn ở vạn Giao Thủy, sau nhiều lần di dời chùa mới được chuyển về vị trí hiện nay. Tên chữ của chùa là Thần Quang Tự hiện được đặt cho ba ngôi chùa lớn ở vùng hạ lưu sông Hồng. Đó là chùa Keo Hành Thiện, chùa Keo Dũng Nhuệ (Thái Bình) và chùa Cổ Lễ. Trong không gian văn hóa này đã sản sinh ra những nhân vật lịch sử mà sự nghiệp của họ đã đi vào huyền thoại với những sự tích kỳ lạ chẳng những bao trùm lên toàn bộ vùng đất Nam Định thời Lý mà còn là hiện tượng mang tầm vóc quốc gia. Đó là các thiền sư Dương Không Lộ, Nguyễn Minh Không và Giác Hải. Cũng dưới thời Lý, Phật giáo có vai trò đặc biệt quan trọng. Sự hưng thịnh của Phật giáo có quan hệ mật thiết đến chính sự, đời sống kinh tế - xã hội và phát triển văn hóa. Các sư tăng là tầng lớp trí thức được triều đình trọng đãi. Sự hiện diện những ngôi chùa lớn ở vùng đất giao thoa từ Quán Các đến Cổ lễ chứng tỏ đây là một vùng đất có giá trị trung tâm. Vùng đất Giao Thủy có các vị Pháp sư như Không Lộ, Minh Không và Giác Hải, những người thường xuyên được vua mời vào Kinh hoặc thân đến chùa vấn kế, chứng tỏ đây là nơi hội đủ những điều kiện để sản sinh ra những nhân tài cả nước biết đến.
    Dưới thời Lý, Nam Định không những là một cửa ngõ của cả vùng châu thổ sông Hồng mà còn là một trung tâm kinh tế quan trọng. Các vua Lý đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vùng đất này. Qua các tư liệu lịch sử, ta biết trên đất Nam Định xưa, nhà Lý đã cho xây ít nhất hai hành cung làm nơi cho vua dừng chân nghỉ lại đi trong những lần đi kinh lý vùng đất này
    Do vị trí trọng yếu, Nam Định trở thành một trong những nơi giao tranh quyết liệt. Năm 1203, quân nổi loạn do Phí Lang và Bảo Lương cầm đầu từ Đại Hoàng (Ninh Bình) xuôi theo sông Đáy đến đất Nam Định, mở rộng hoạt động ra vùng hạ lưu. Sự rối loạn lên đến cực điểm vào năm 1208, khi trong nước “người chết đói nằm chồng chất lên nhau”. Đúng lúc triều Lý bất lực trong việc điều hành đất nước, vùng đất Nam Định lại là nơi hưng khởi của nhà Trần, một triều đại đầy sức sống đã đưa quốc gia Đại Việt phát triển lên một tầm cao mới./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  7. #7
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Nam Định dưới thời thuộc Minh



    Năm 1407, sau khi đánh bại cuộc kháng chiến của nhà Hồ, giặc Minh bắt đầu thiết lập chính quyền đô hộ trên đất nước ta nhằm phục vụ chương trình “bình định” và thi hành chính sách thống trị, đồng hóa của chúng trên tất cả các mặt hành chính, quân sự và văn hóa.




    Tháng 4-1407, Minh Thành Tổ hạ chiếu đổi nước ta làm quận Giao Chỉ - như một địa phương của quốc gia phong kiến nhà Minh. Bằng hành động này, nhà Minh đã bộc lộ rõ ý đồ không chỉ chiếm đóng mà còn vĩnh viễn xóa bỏ nước ta, sáp nhập hẳn vào đế quốc Minh như tên gọi và đơn vị hành chính mà các đế chế đô hộ phương Bắc đã dùng từ nửa thiên niên kỷ trước.
    Dưới quận, nhà Minh chia ra làm 15 phủ. Phần đất Nam Định lúc ấy thuộc hai phủ Kiến Bình và Phụng Hóa.
    Phủ Phụng Hóa tương đương với phủ Thiên Trường cuối thể kỷ XIV, gồm bốn huyện là Mỹ Lộc, Tây Chân, Giao Thủy và Thận Uy. Bốn trong số chín huyện thuộc phủ Kiến Bình thuộc về đất Nam Định là Ý Yên, An Bản, Vọng Doanh và Đại Loan. Cả hai phủ thuộc tỉnh Nam Định đều bị nhà Minh đổi tên. Kiến Hưng đổi thành Kiến Bình với ý nghĩa xây dựng, kiến lập sự yên ổn, vững chắc, Thiên Trường đổi thành Phụng Hóa hàm ý tuân theo sự giáo hóa, cải hóa của nhà Minh.
    Trong vùng châu thổ Bắc Bộ bao gồm các phủ Giao Châu, một phần phủ Bắc Giang, Lạng Giang, Kiến Bình, Tân An, Kiến Xương, Phụng Hóa, Trấn Man – nơi tập trung đến gần một nửa binh lực thường trực của quân Minh, chúng đặc biệt chú trọng tới vị trí chiến lược quân sự ở vùng đất Nam Định. Không phải ngẫu nhiên mà vệ quân đóng ở Kiến Bình mang huyện Giao Châu hậu vệ, có nghĩa đây là cứ điểm gắn liền với hệ thống có nhiệm vụ bảo vệ trung tâm đầu não của Minh ở Đông Quan.
    Thủ phủ của Kiến Bình đồng thời là doanh sở của Giao Châu hậu vệ chính là thành Cổ Lộng. Thành Cổ Lộng (còn có tên gọi dân gian là thành Cách do nằm ở địa phận ba làng Cách – tên nôm của ba làng Bình Cách Thượng, Bình Cách Hạ và Thọ Cách) quân Minh xây dựng vào khoảng trước năm 1408, nay thuộc địa phận xã Yên thọ, huyện Ý Yên. Cổ Lộng còn khống chế vùng tụ hội của nhiều dòng chảy về sông Đáy như sông Nguyệt Đức, Hoàng Long, Sinh Quyết, tạo thành một loạt ngã ba sông hiểm yếu như Gián Khẩu, Đồng Định, Non Nước dẫn đi nhiều ngả lên phía Ninh Bình, Hà Nam. Thành nằm giữa một vùng chiêm trũng của Nam Định xen lẫn đồi núi bao bộc, khiến cho Cổ Lộng trở thành căn cứ quân thủy.
    Địa bàn Nam Định không chỉ là nơi giặc Minh tập trung cao cố gắng kiểm soát, kiểm tra giao thông,liên lạc, liên hệ, liên kết của cư dân, mà còn là địa bàn chúng ưu tiên chú ý bình định, đồng hóa về văn hóa, tư tưởng. Cùng với chính sách “một mảnh giấy, một nửa chữ cũng không để lại” do chính vua Minh ra lệnh, quân giặc còn phá hủy nhiều di tích lịch sử văn hóa. Đất Nam Định là một địa bàn trọng điểm mà giặc Minh thực hiện chính sách trên.
    Tại phường Quán Đổ (sau làng Đô Quan, huyện Ý Yên), nơi có nghề đục chạm đá, có ngôi đền thờ Trần Nhân Trứ - Thân vệ tướng đời Trần, tương truyền có các bộ đồ thờ, tượng đều bằng đá. Thời giặc Minh đô hộ, chúng đã chất củi lẫn với thuốc súng đốt đền, nay chỉ còn sót lại bệ đá hoa sen, đôi cầy đèn đá.
    Chùa Phổ Minh – quê hương của các vua Trần, nơi có chiếc vạc đồng, sản phẩm của nghề đúc đồng nổi tiếng của dân Đại Việt mà chính người Trung Hoa thời ấy cũng xếp vào một trong “An Nam tứ đại khí”, cũng đã bị giặc Minh thiêu hủy./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  8. #8
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Nam Định trong kháng chiến chống Minh trước khởi nghĩa Lam Sơn (1407-1417)


    Mùa xuân năm 1407, đại quan của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã lui về cửa Muộn Hải (cửa sông Hồng thuộc đất Giao Thủy thời đó, nay vào khoảng tiếp giáp giữa Xuân Trường và Giao Thủy).



    Địa bàn Nam Định trong thập kỷ đầu của thế kỷ XV đã chứng kiến những cuộc chiến đấu chống Minh bi hùng của quân đội triều Hồ.
    Mùa xuân năm 1407, đại quan của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã lui về cửa Muộn Hải (cửa sông Hồng thuộc đất Giao Thủy thời đó, nay vào khoảng tiếp giáp giữa Xuân Trường và Giao Thủy). Tại đây quan quân nhà Hồ “hợp sức đắp lũy, đúc hỏa khí, đóng thuyền chiến để chống giặc. Quyên tiền mộ của, ai đóng góp thì bản thân được ban tước, nếu là con trai thì được lấy con gái tôn thất và được ban cấp 10 mẫu đất”. Một cánh quân nhà Hồ do viên tướng chỉ huy Thần Đinh là Ngô Thành đã nhân con nước triều lên đã tập kích vào Giao Thủy, nhưng Trương Phụ và Mộc Thành đã chia quân ra hai bên bờ sông chặn đánh. Ngô Thành thế cô bị hãm trận, hy sinh
    Ngay sau thất bại này của quân nhà Hồ, quân Minh đã bắt tay vào việc thi hành chính sách cai trị, bình định của chúng. Cùng với cả nước, đất Nam Định trong suốt thời kỳ quân Minh đô hộ chưa khi nào nguôi tắt ngọn lửa đấu tranh dưới hình thức của nhân dân chống quân xâm lược, đông đảo nhân dân vùng Nam Định đã đặt nợ nước lên trên, nhìn rõ bản chất xâm lược của kẻ thù, đứng lên chống lại chiêu bài lừa bịp đó bằng khởi nghĩa vũ trang dũng cảm, sinh tử với giặc Minh.
    Ngay trong những ngày đầu tiên, người Nam Định đã tiến hành khởi nghĩa chống giặc Minh mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi. Về giai đoạn của cuộc khởi nghĩa này, Toàn thư chỉ chép vẻn vẹn như sau: ”Mùa đông, tháng 10, Giản Định Đế lên ngôi ở Mô Độ, châu Trường Yên, dựng niên hiệu là Hưng Khánh. Trước đó, Trương Phụ yết bảng bắt các tôn thất họ Trần và đầu mục quan lại cũ để đưa về. Vua trốn chạy đến Mô Độ. Người Thiên Trường là Trần Triệu Cơ đem quân đến lập lên ngôi”. Tác giả cuốn Khởi nghĩa Lam Sơn viết rõ hơn “Một người yêu nước ở Thiên Trường (Nam Định cũ) là Trần Thiệu Cơ lúc bấy giờ đang chuẩn bị khởi nghĩa liền đem quân đến đón Trần Ngỗi lập lên làm minh chủ”
    Tiếc là cho đến nay không có thêm tư liệu gì mới hơn về Trần Thiệu Cơ. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, hành động Trần Thiệu Cơ đem quân bản bộ của mình đến và tôn Trần Ngỗi lên làm ngọn cờ của cuộc khởi nghĩa đã phản ánh tâm lý xã hội lúc đó của bộ phận dân cư luyến nhớ nhà Trần, mượn danh nhà Trần để tập hợp lực lượng. Sau này, trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi – người hoàn toàn không dính dáng về dòng họ và quyền lợi nhà Trần, nhưng thấy lòng người vẫn nhớ nhà Trần đã cho dựng lên Trần Cảo “để theo nguyện vọng mọi người cần nhìn nhận đó như một nghệ thuật đấu tranh khiến cho nghĩa quân vừa tranh thủ được một bộ phận nhân dân và tiện bề lợi dụng chiêu bài mà chính quân Minh đang sử dụng
    Như vậy tại bến Bô Cô – bên bờ sông Đáy của Nam Định, Ninh Bình đã ghi một chiến công lừng lẫy, có hiệu quả tiêu diệt sinh lực địch lớn nhất của nghĩa quân từ khi quân Minh xâm lược nước ta đến năm 1408.
    Trong cuộc kháng chiến sau đó do Trần Quý Khoáng đứng đầu, vùng bên sông Mờm thuộc xã Ngọc Chấn (nay thuộc xã Yên Trị, huyện Ý Yên) là địa điểm đóng quân của Đặng Dung. Sau này, đền thờ ông ở đây còn có bài thơ khắc trên gỗ sơn son thếp vàng, tương truyền do Đặng Dung cảm tác:
    Tinh kỳ nghiêm lập thủy lưu trường
    Thân ỷ thuyền lan vọng cố hương
    Dân tán quốc nguy thùy nhiệm trọng
    Binh cơ lợi độn vị năng lường
    (Cờ binh nghiêm chỉnh bên dòng nước chảy dài
    Thân tựa vào thuyền ngóng về quê hương
    Dân tan tác, nước nguy khốn ai là người đảm trách
    Việc binh thắng bại chưa có khả năng tính toán được)


    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  9. #9
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Nam Định trong sự nghiệp xây dựng nước Đại Việt thời Lê sơ (1428-1527)

    Trường thi Nam Định xưa
    Vùng đất nam sông Hồng – trong đó địa bàn chủ yếu là Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình ngày nay, từ nửa cuối thế kỷ XV, được triều đình nhà Lê quan tâm đặc biệt.



    Nhà nước đã có nhiều chính sách và hoạt động về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa ở vùng này hơn so với các khu vực khác của châu thổ sông Hồng cùng thời.
    Nằm trên trục đường giao thông thủy, bộ nối liền bắc nam, Nam Định trong thế kỷ XV có ý nghĩa đặc biết với triều Lê. Chiêm Thành, Chân Lạp ở phương Nam luôn là mối lo thường xuyên về an ninh quốc gia nơi miền biên ải, đồng thời lại là vùng đất rộng người thưa kích thích khát vọng mở mang lãnh thổ của chính quyền Đại Việt. Phương nam với nhà Lê còn có Lam Sơn – Lam Kinh – quê cha đất tổ, đất phát tích của vương triều…Vì thế các vua Lê nhất là vua Lê Thánh Tông, thường xuyên qua lại vùng Thiên Trường, Trường Yên.
    Năm 1466, triều Lê thay đổi, xếp đặt lại quân ở năm phủ và định quân hiệu, bốn trong năm phủ quân quản các địa phương kề cận với nhau về mặt địa lý, riêng phủ Nam quân lại là hai khu vực Thiên Trường và Thuận Hóa cách xa nhau hàng ngàn dặm. Trong thời Lê Thánh Tông, vị trí vùng đất Thiên Trường càng trở nên đặc biệt quan trọng với các hoạt động quân sự ở vùng đất Chiêm Thành cũng như việc phòng vệ phía nam cho vùng trung châu Bắc Bộ, cho kinh thành Đông Kinh.
    Nhà nước thời Lê sơ rất quan tâm đến việc nông tang nói chung, công cuộc khai hoang mở rộng diện tích canh tác nói riêng bằng hàng loạt chính sách, nhất là dưới thời Hồng Đức. Cùng với hoạt động khẩn hoang tự nguyện của những người nông dân, chính quyền trung ương nhà Lê cũng đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức khẩn hoang dưới hình thức đồn điền ở phía Nam khu vực sông Hồng, trong đó có Nam Định. Khó có thể thống kê, khảo sát, xác định được đầy đủ những đồn điền thời Lê sơ đã từng có ở Nam Định. Ngoài lý do thời gian đã quá lâu, còn có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác. Cư dân đầu tiên của các đồn điền này trước hết và chủ yếu là các binh lính, tù binh, tội nhân. Họ ít và khó có điều kiện ghi chép để truyền lại cho đời sau về lịch sử khai hoang lập làng. Tuy nhiên căn cứ vào các nguồn tài liệu chính thống của nhà nước phong kiến như chính sử, điền bạ…có thể thấy vùng Nam Định tập trung khá nhiều đồn điền như:
    Sở Vĩnh Hưng (thuộc vùng của tổng Cổ Nông, Trực Ninh)
    Sở Đông Hải (nơi có các thôn Đắc Sở, Thượng Đồng, Hạ Đồng thuộc Trực Ninh)
    Sở Hoa Diệp (thuộc vùng Phượng Để, Cổ Lễ, Trực Ninh)
    Sở Vọng Doanh (nằm trong vùng các xã Yên Quang, Yên Bằng, Yên Khang thuộc Ý Yên)
    Sự trù mật của các đồn điền ở ven cửa biển vùng Giao Thủy, bên đê sông Hồng, sông Đáy tự đã làm nổi bật lên vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của vùng đất phủ Thiên Trường với nhà nước thời Lê sơ, với quốc gia Đại Việt nửa sau thế kỷ XV. Nửa sau thế kỷ XV, trên vùng ven biển Nam Định chứng kiến một công trình kết tinh thành quả lao động to lớn của nhân dân Đại Việt. Đó là việc khởi công và hoàn thành đê Hồng Đức, một con đê ngăn nước mặn có quy mô lớn đầu tiên của vùng châu thổ. Với sự đầu tư, quan tâm của trung ương và địa phương như vậy, công cuộc đắp đê ở vùng biển Nam Định, Ninh Bình thời Lê sơ đã được tiến hành với tốc độ nhanh quy mô lớn. Trên địa bàn Nam Định qua những dấu tích còn lại thì thấy đê Hồng Đức kéo dài từ cửa Đại An, qua phần bắc Nghĩa Hưng, rồi Hải Hậu về đến Hội Khê. Nhiều đoạn gần trùng với con đường 56 hiện nay.
    Cùng với sự phát triển nho học của cả nước, giáo dục nho học ở Nam Định thế kỷ XV có bước phá triển mới. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh, vào năm 1428, nhà Lê đã cho mở các trường học ở phủ, lộ. Điều đáng chú ý là trong thời Lê sơ, sự phát triển của nho học ở Nam Định không chỉ diễn ra trên các vùng đất cổ như Ý Yên, Vụ Bản hay tại vùng xung quanh ấp thang mộc của nhà Trần như Lộc Vượng, mà còn ở cả địa bàn ven biển, nơi các làng mạc mới được hình thành. Trong vòng 100 năm của thời Lê sơ, Nam Định có đến 22 tiến sĩ, đại bộ phận số đại khoa này đều đỗ vào nửa sau thế kỷ XV, cho nên có thể nói Nho học ở Nam Định đã thực sự có bước phát triển mới từ sau sự kiện Lương Thế Vinh đỗ trạng nguyên (1463). Ngoài con số các trạng nguyên tiến sĩ kể trên, biểu hiện quan trọng của thành tựu giáo dục nho học vùng Nam Định, điều đáng nói ở chỗ không ít vị đại khoa đã trở thành những nhân vật tiêu biểu cho trí tuệ, tài năng Đại Việt thế kỷ XV nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  10. #10
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Lịch sử Nam Định

    Vùng đất Nam Định từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (Phần I)


    Sau thời kỳ phát triển toàn thịnh của Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền dưới thời Lê Thánh Tông, đến đầu thế kỷ XVI, triều Lê sơ bước vào thời kỳ suy yếu, khủng hoảng.



    Phần I: Những biến động chính trị
    Trong thế kỷ XVI – XVIII, đất Nam Định thuộc bắc triều dưới sự kiểm soát của nhà Mạc, rồi thuộc đàng ngoài dưới triều Lê – Trịnh và thuộc Bắc Hà dưới triều Tây Sơn.
    Để tăng cường cho vùng đất Dương Kinh, triều Mạc lấy bớt các phủ Thái Bình, Kiến Xương, Long Hưng và Khoái Châu của Trấn Sơn Nam nhập vào trấn Hải Dương. Đất Nam Định gồm 2 phủ Nghĩa Hưng và Thiên Trường vẫn thuộc trấn Sơn Nam. Thời Lê – Trịnh, năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) chia trấn Sơn Nam làm 2 lộ Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ, lấy bớt hai phủ của trấn Sơn Nam cũ là Trường Yên và Thiên Quan đặt làm lộ Thanh Hoa ngoại. Vùng đất Nam Định thời này thuộc lộ Sơn Nam Hạ. Đến thời Tây Sơn tiếp quản và cai trị Bắc Hà, đổi lộ thành trấn. Nam Định thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Mặc dù có lúc gọi là lộ hay trấn, vùng đất Nam Định vẫn thuộc Sơn Nam Hạ và nằm trọn trong hai phủ Thiên Trường và Nghĩa Hưng, mỗi phủ gồm 4 huyện.
    Nằm ở vùng cửa sông, có vị trí chiến lược quan trọng, lại có đồng bằng trù phú, đông người nhiều của, đã từng có kho lượng thực và vũ khí lớn ở Vị Hoàng, Nam Định đã chứng kiến rất nhiều trận chiến ác liệt giữa Nam – Bắc triều, Trịnh – Tây Sơn. Các trận chiến diễn ra ở vùng đất này chủ yếu là thủy chiến.
    Suốt thời kỳ chiến tranh Nam Bắc triều, trên vùng đất Nam Định đã diễn ra rất nhiều trận chiến ác liệt, gây bao nhiêu đau thương tang tóc cho nhân dân. Không chỉ có thế, vừa mới chấm dứt cuộc chiến với nhà Mạc, trong nội bộ triều Lê – Trịnh đã nẩy sinh mâu thuẫn mới. Từ năm 1627 đến năm 1672 chúa Trịnh đã 6 lần lấy danh nghĩa vua Lê đem quân đánh chúa Nguyễn ở phía Nam. Mặc dù không còn là chiến trường trực tiếp trong cuộc xung đột Trịnh – Nguyễn, nhưng đất Nam Định nơi đặt trường sở (kho lương tiền) Sơn Nam vẫn phải cung cấp lương thực, vũ khí cho các đoàn thuyền quân Trịnh thường xuyên xuất phát từ cửa Đại An theo đường biển tiến vào Đàng Trong. Ngoài ra từ năm 1593 đến năm 1677, người nông dân vùng Nam Định còn liên tục phải đăng lính, xung vào các đội quân tham gia nội chiến và đi đánh dẹp các cuộc nổi dậy của dư đảng họ Mạc ở Cao Bằng. Đó là những cuộc tranh giành phe phái mà gánh nặng chiến tranh luôn đè nặng lên vai những người nông dân. Chiến tranh liên miên, đê điều thủy lợi không được nhà nước quan tâm tu bổ, bọn tham quan thừa hành lại tìm cách bớt xén làm cho đê điều bị xuống cấp nên nạn vỡ đê điều, lụt lội và hạn hán xẩy ra thường xuyên.
    Vào giữa thế kỷ XVIII, ở vùng Bắc Bộ có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, trong đó có những cuộc nổi dậy với quy mô lớn tiêu biểu như khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở Hải Dương, khởi nghĩa của Hoàng Công Chất ở phía đông lộ Sơn Nam. Trong số đó, trực tiếp có quan hệ đến vùng đất Nam Định là cuộc khởi nghĩa do Hoàng Công Chất cầm đầu nổ ra năm 1739. Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất vừa tạm lắng xuống thì ở đồng bằng Sơn Nam lại có nghĩa quân khác nổi dậy.
    Ngày 11-7-1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Hữu Chảnh chỉ huy đã chiếm được Vị Hoàng. Quân Trịnh không chống cự được bỏ chạy. Toàn bộ số lương thực gồm hơn 100 vạn hộc thóc đã nằm trong tay quân Tây Sơn. Một ngọn lửa cao báo hiệu cho quân tiến ra. Sáu ngày sau, tức ngày 17-7 năm đó, đại quân Tây Sơn gồm hơn 1.000 chiến thuyền do Nguyễn Huệ thuận gió nồm thổi mạnh cũng ồ ạt kéo ra hợp binh ở Vị Hoàng. Tại đây, Nguyễn Huệ cho thảo hịch phát đi khắp nơi kể tội họ Trịnh tiếm quyền và giương cao sách lược phò Lê được nhân dân vô cùng ủng hộ. Chỉ trong vòng 10 ngày nhân dân các huyện quanh thành Vị Hoàng đã tập trung công sức xay lúa, giã gạo và huy động hàng trăm chiếc thuyền chở lương thực giúp quân Tây Sơn.
    (còn tiếp)
    (Nguồn Địa chí Nam Định)

+ Trả Lời Ðề Tài

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts

LinkBacks Enabled by vBSEO