+ Trả Lời Ðề Tài
kết quả từ 1 tới 10 trên 10
dqw
  1. #1
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Tự nhiên và xã hội

    Nam Định - Bộ phận phía Đông Nam giáp biển của châu thổ sông Hồng

    Sông Hồng Tỉnh Nam Định nằm giữa hai đứt gãy sâu là đứt gãy sông Hồng chạy theo sông Đáy và đứt gãy sông Chảy đi xuống theo dòng sông Hồng ra cửa Ba Lạt, dọc theo đó châu thổ bị sụt lún, khiến cho bề dày trầm tích Đệ tam và Đệ tứ bên trên nền móng Nguyên sinh có chỗ dày đến 300m


    Tuy nhiên mức độ sụt võng và tuổi sụt võng cũng khác nhau giữa phần phía tây và phần phía đông núi Gôi.
    Tình hình địa chất – kiến tạo như trên đã khiến cho Nam Định nằm trong vùng động đất có thể đến cấp 8, nhưng lại thuộc miền võng Hà Nội là phần đất liền của bể dầu khí sông Hồng, tại đây tiềm năng khí thiên nhiên đã trở thành hiện thực, còn tiềm năng dầu mỏ đang được tiếp tục xác định thêm. Vị trí Đông Nam giáp biển và nằm giữa hai sông Hồng sông Đáy cũng khiến cho Nam Định là bộ phận châu thổ trẻ của đồng bằng sông Hồng, nơi còn chịu tác động của biển do ảnh hưởng của thủy triều, nước mặn vẫn lan vào qua các cửa sông.
    Sự phân hóa đó ảnh hưởng sâu sắc đến đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng và thủy văn Nam Định. Tính chất châu thổ hiện đại của tự nhiên trong tỉnh Nam Định, khiến cho tại đây sông Hồng phải phân ra nhiều chi lưu để có thể thóat nhanh ra biển, trong đó quan trọng nhất là sông Nam Định, sau đó là sông Ninh Cơ, sông Sò. Như thế tỉnh Nam Định chịu sức ép rất lớn của nước sông Hồng và của sóng, thủy triều biển Đông. Điều này đã cắt nghĩa tầm quan trọng của hệ thống đê sông, đê biển và các dòng sông nội đồng chi chít trong tỉnh.
    Vị trí đông nam và giáp biển của Nam Định trong đồng bằng sông Hồng còn giải thích sự giảm bớt tính khô lạnh của khí hậu trong tỉnh về mùa đông và sự gia tăng ảnh hưởng của gió bão, sóng bão và mưa bão trong mùa hè. So với các tỉnh phía Bắc đồng bằng như Bắc Giang, Bắc Ninh và so với các tỉnh nằm sâu trong nội địa như Vĩnh Phúc, Hà Nội, thì số tháng lạnh dưới 18 độ C tại Nam Định giảm một tháng và số tháng khô cũng giảm một tháng. Lượng mưa cũng nhỉnh hơn so với phần tây bắc đồng bằng sông Hồng và đặc biệt lớn là vào tháng 9. Khí hậu của Nam Định còn chịu ảnh hưởng của dải đồi núi chạy theo rìa tây bắc – đông nam của đồng bằng sông Hồng, đó là bức chắn đối với gió mùa tây nam, làm tăng thời tiết mưa - ẩm vào mùa đông và thời tiết nóng khô vào mùa hè, nhất là mạn ven biển.
    Đất đai Nam Định có tuổi rất trẻ, non một nửa có tuổi hơn 1.000 năm và già một nửa có tuổi dưới 1.000 năm, về phía Bắc và phía Nam đường bờ biển thế kỷ X được đánh dấu bởi một vùng cồn cát cổ trên con đường vạch từ cửa sông Nam Định đến xã Nam Hồng, huyện Nam Trực.
    Được canh tác thâm canh, thảm thực vật tự nhiên coi như không còn thay vào đó là một tổng thể những loại cây trồng vô cùng phong phú, nhiều nhất là lúa, ngô, đỗ, lạc, vừng, các loại rau và hoa quả...Đặc biệt là cửa vùng Ba Lạt có một bãi chim di cư, tạm trú trên con đường di chuyển từ Bắc bán cầu (vùng Đông Bắc Á) xuống Nam bán cầu (châu Đại Dương) và ngược lại. Thời gian xuất hiện là cuối thu (tháng 10-11) và đầu xuân (tháng 3-4). Quan sát đã phát hiện được tới 150 loài chim, số lượng có khi lên đến 25.000 con, trong đó có một số loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ của Tổ chức bảo vệ chim quốc tế (cò thìa, choi choi mỏ thìa, mòng biển đầu đen, bồ nông chân hồng...). Do đó ngày 20-9-1988, vùng đất ngập mặn Xuân Thủy là vùng đất đầu tiên cuả Việt Nam được ghi vào Công ước quốc tế bảo vệ đất ngập nước (RAMSAR).
    Không những tự nhiên trong tỉnh giàu có về tài nguyên tự nhiên như khí thiên nhiên, nước khoáng, vật liệu xây dựng, đất đai phì nhiêu, nông sản và hải sản phong phú, mà còn do vị trí đặc biệt về phía đông nam giáp biển của đồng bằng sông Hồng.
    Hiện nay năng suất lúa bình quân ở Nam Định vào loại cao nhất đồng bằng sông Hồng và vùng muối Văn Lý cũng lớn nhất đồng bằng. Khởi đầu từ thành Nam Định xây dựng năm 1804, là thủ phủ tỉnh từ 1832, thành phố Nam Định còn giữ được nhiều di tích lịch sử - văn hóa như di tích nhà Trần, tháp Phổ Minh...Các mũi nhọn kinh tế có thể là trồng cây lượng thực, cây công nghiệp (bông, cói), nuôi trồng thủy sản, làm muối, chế biến nông hải sản, hóa chất, xi măng...

  2. #2
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Các hợp phần cấu trúc thẳng đứng tự nhiên tỉnh Nam Định

    Đặc điểm và hoạt động của tự nhiên tỉnh Nam Định là kết quả tác động tương tác của sự trao đổi vật chất và năng lượng giữa các hợp phần địa chất, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn và sinh vật trong một thời gian lịch sử địa chất – kiến tạo lâu dài


    Lịch sử hình thành và phát triển để lại những dấu ấn sâu sắc nhất trên các hợp phần vật chất rắn như nham thạch, địa hình, thổ nhưỡng.
    Phần 1: Địa chất – địa hình – thổ nhưỡng Nam Định
    Ba hợp phần cấu trúc địa chất – địa hình – thổ nhưỡng gắn bó mật thiết với nhau. Nham thạch là vật chất tạo nên địa hình và thổ nhưỡng, địa hình là hính dáng nham thạch, còn thổ nhưỡng là bộ phận mỏng, vụn bở trên cùng, có tính chất phì nhiêu giúp cho cây cối phát triển. Sự bền vững của địa hình và sự phì nhiêu của thổ nhưỡng là do tính chất hóa – lý của nham thạch cùng với lớp phong hóa của nó quyết định.
    a) Các hệ tầng địa chất
    Tỉnh Nam Định được hình thành trong một thời gian lịch sử địa chất – kiến tạo lâu dài, trước hết là từ sau tác động của Himalaya cho đến ngày nay. Cách đây 23 triệu năm, tạo sơn Himalaya xảy ra do lục địa Ấn Độ va chạm mạnh vào lục địa Âu – Á đã bắt đầu nâng cao lãnh thổ nước ta làm nhiều đợt, đồng thời tạo ra các vùng sụt võng, trong đó có đồng bằng sông Hồng. Tại phần phía Nam sông Hồng thuộc Nam Định do sụt võng muộn hơn, chỉ có trầm tích Plioxen cũng là nham tướng vũng vịnh, châu thổ (hệ tầng Vĩnh Bảo), nằm không chỉnh hợp trên đá biến chất Nguyên sinh sớm (hệ tầng Thái Ninh) thuộc phức hệ sông Hồng. Sang kỷ Đệ tứ một mặt châu thổ sông Hồng vẫn tiếp tục sụt võng và tách dãn kiểu Riptơ (rift), đối với Nam Định là quá trình sụt tách do sự hoạt động hồi sinh của hai đứt gãy sông Hồng và sông Chảy, mà sông Đáy và hạ lưu sông Hồng đang chảy dọc theo.
    Các hệ tầng địa chất: Hệ tầng Thái Ninh, Hệ tầng Vĩnh Bảo, Hệ tầng Thái Thụy, Hệ tầng Hải Hưng, Hệ tầng Thái Bình
    b) Đặc điểm địa hình
    Tỉnh Nam Định nằm tại phần tiến nhanh ra biển của châu thổ sông Hồng, nhất là từ sau khi sông Hồng phân ra các chi lưu như sông Trà Lý, sông Nam Định và sông Ninh Cơ. Nhìn trên bản đồ, rõ ràng là khu vực tiến nhanh nhất đi từ cửa Trà Lý đến cửa Hà Lạn, tập trung hai bên tả hữu ngạn cửa Ba Lạt. Khu vực tiến nhanh thứ hai là ở cửa Đáy, mà nước cũng như phù sa chủ yếu vẫn từ sông Hồng đổ vào sông Đáy qua sông Nam Định. Khu vực Giao Thủy hàng năm được bồi khoảng 90ha và khu vực Nghĩa Hưng khoảng 32ha. Như vậy, toàn tỉnh Nam Định được tăng khoảng 120ha/năm.
    Do sự phát triển như vậy mà trên địa phận Nam Định có rất nhiều di tích bờ biển cổ, như các đầm lầy biển cổ ở hữu ngạn sông Nam Định và các cồn cát cổ ở tả ngạn sông Nam Định, nơi có đường bờ biển ở thế kỷ X. Từ đường bờ biển thế kỷ XIX trở ra, ta cũng gặp khá nhiều các dạng địa hình cồn cát, giúp ích rất lớn cho việc quai đê lấn biển. Như thế, nhân dân ta cũng đã biết lợi dụng đặc điểm phát triển của châu thổ để cải tạo nhanh các bãi sa bồi ven biển thành ruộng lúa và xây dựng các đồng muối tại nơi bờ bỉển không tiến được – do không có nguồn phù sa phong phú từ một chi lưu quan trọng nào đổ ra, khiến cho năng lượng sóng dư thừa đã làm xói lở đường bờ biển cát
    c) Đặc điểm thổ nhưỡng
    Tại châu thổ trẻ này, các hợp phần địa chất – nham thạch, địa hình và thổ nhưỡng có quan hệ phát sinh rất chặt chẽ, trong đó vai trò quyết định thuộc về các quá trình sông – biển hình thành châu thổ lấn biển. Các vật liệu tích tụ sông – biển là nham tướng của các kiểu địa hình và của thổ nhưỡng. Các quá trình tạo thành địa hình lại phân phối các vật liệu ấy, đồng thời cũng xác định vị trí của các loại đất. Do vậy, lớp phủ thổ nhưỡng ở đây gồm hai nhóm đất chính là đất phù sa sông, đất mặn và đất cát vùng ven biển. Do đó, thổ nhưỡng Nam Định chia ralàm hai vùng lớn: vùng không còn chịu ảnh hưởng của biển và vùng còn chịu ảnh hưởng của biển.

    (còn nữa)
    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  3. #3
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Các hợp phần cấu trúc thẳng đứng tự nhiên tỉnh Nam Định (tiếp theo)



    Khí hậu Nam Định mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, là khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh khô do đồng bằng chịu tác động mạnh nhất của gió mùa đông bắc, so với dải đồng bằng miền Trung và đồng bằng Nam Bộ




    Phần 2: Khí hậu – Thủy văn
    1) Đặc điểm khí hậu
    Khí hậu Nam Định mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, là khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh khô do đồng bằng chịu tác động mạnh nhất của gió mùa đông bắc, so với dải đồng bằng miền Trung và đồng bằng Nam Bộ. Mặt khác, khí hậu Nam Định cũng có những sắc thái riêng do vị trí đông nam và giáp biển của tỉnh Nam Định trong khu đồng bằng Bắc Bộ. Nhiệt độ trung bình tại Nam Định 23oC. Lượng mưa trung bình năm tại Nam Định bằng 1.757mmm. Như vậy là đạt tiêu chuẩn chí tuyến ẩm. Ngoài ra hàng năm, Nam Định trung bình có tới 20,6 đợt gió mùa đông bắc, trong khi đó Thanh Hóa chỉ có 14-15 đợt và các frông lạnh yếu thường dừng lại ở dãy đồi núi ranh giới giữa Ninh Bình và Thanh Hóa. Lượng mưa mùa đông do frông lạnh gây nên cũng do tác động bức chắn của dải đồi núi này mà tăng lên tại vùng đông nam đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Nam Định, khiến cho một số tháng khô giảm từ bốn tháng tại Bắc Ninh, Bắc Giang xuống ba tháng tại Hà Nội và hai tháng tại Nam Định. Đồng thời tính chất lạnh cũng giảm bớt, tại Nam Định chỉ còn hai tháng lạnh với nhiệt độ dưới 18oC so với ba tháng lạnh như thế tại các tỉnh ở phần phía bắc đồng bằng Bắc Bộ. Vì vậy, vụ đông xuân ở Nam Định có chế độ nhiệt ẩm thuận lợi, nhất là cho lúa. Ngoài ra do vị trí giáp biển, chịu tác động của Vịnh Bắc Bộ, khiến cho khí hậu Nam Định còn có sự phân hóa giữa phần nằm ngay bờ biển và phần ở sâu một chút trong đất liền, như phần phí hữu ngạn sông Nam Định.
    Do thời gian chuyển tiếp giữa hai mùa gió đông bắc và tây nam cũng dài tới hai tháng, mà riêng tại đồng bằng Bắc Bộ trong đó có Nam Định có thời tiết bốn mùa xuân – hạ - thu – đông tương đối rõ.
    Đặc trưng nhiệt ẩm trung bình năm và diễn biến mùa đã khiến cho khí hậu Nam Định nói chung thuộc kiểu “khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có mùa đông lạnh với hai tháng dưới 18oC và có mùa khô dài hai tháng”. Qua phân tích đặc điểm của từng yếu tố khí hậu cho thấy các yếu tố đó đều có quan hệ với nhau và tựu trung là phản ánh nền tảng nhiệt - ẩm của khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm và diễn biến mùa xuân – hạ - thu – đông tại tỉnh Nam Định.
    2) Đặc điểm thủy văn
    Là bộ phận ven biển đông nam của châu thổ sông Hồng, có khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, nguồn nước của tỉnh Nam Định rất phong phú, nhưng biến đổi theo mùa và chịu ảnh hưởng của thủy triều. Từ khi con người đắp đê kiên cố để khai thác tự nhiên, thì sự giao lưu giữa hai nguồn nước là nguồn tại chỗ do mưa cung cấp và nguồn từ sông Hồng và các chi lưu bị xáo trộn. Con người phải xử lý sự xáo trộn do mình gây ra khi muốn sớm thâm canh đồng bằng bãi bồi hàng năm bị ngập lụt, bằng một hệ thống kênh mương rải khắp đồng ruộng và các trạm bơm tưới, tiêu và cống tưới tiêu dày đặc ven sông, mà điển hình là dọc sông Sắt và sông Ninh Cơ.
    Mật độ lưới sông trong tỉnh không đủ để tiêu hết nước dư thừa trong mùa mưa lũ, khiến cho rải rác khắp nơi đều có vùng úng ngập tạm thời, riêng ô trũng Vụ Bản – Ý Yên có thêm những vùng ngập úng thường xuyên chưa tiêu thoát được. Tuy nhiên nếu khai thác hợp lý, phù hợp với điều kiện địa – sinh thái, thì vùng ngập úng cũng có những thuận lợi riêng, chưa chắc đã thua kém về hiệu quả kinh tế.
    Trong tỉnh có khoảng 530,1km sông ngòi, trong đó có 16 sông ngòi dài trên 10km với tổng chiều dài là 430,4km riêng bốn sông lớn (Hồng, Đáy, Nam Định, Ninh Cơ) dài 251km. Như thế, mật độ mới đạt 0,33km/km2. Vì vậy hệ thống kênh mương trong tỉnh phải bù vào, đặc biệt là vùng giáp biển vì còn thêm nhu cầu rửa mặn. Với địa hình bãi bỗi châu thổ, mà sự bồi đắp là do sông chuyển dòng liên tục, thì hệ thống hồ móng ngựa – di tích của những khúc uốn cũ đã bị cắt qua và bồi lấp một phần, phải dầy đặc. Nguồn nước ngầm trong tỉnh khá phong phú và phân bố làm hai tầng. Do lịch sử địa chất kiến tạo, có sự phân bố nước ngầm khác nhau giữa phần phía tây đứt gãy kiến tạo qua vùng núi Gôi sụt nông và phần phía đông sụt sâu. Ảnh hưởng của thủy triều, tác động đến hướng dòng chảy của sông ngòi và đến độ cao thấp của mực nước sông vào lúc triều cường và triều ròng thì quanh năm vào hết địa phận Nam Định và còn sâu hơn nữa./.
    (còn nữa)
    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  4. #4
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Các hợp phần cấu trúc thẳng đứng tự nhiên tỉnh Nam Định (tiếp theo và hết)


    Sinh vật là hợp phần hữu cơ khác hẳn về chất với các thành phần vô cơ, như địa chất, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn tạo nên thế cân bằng của môi trường địa – sinh thái.



    Hệ địa – sinh thái coi như cân bằng khi sinh vật và môi trường vô cơ phù hợp với nhau, sinh vật thì phát triển thuận lợi và môi trường thì được sinh vật bảo vệ, bền vững. Do khu vực ngoài đê biển còn nhiều bãi triều rộng mà tại Nam Định ngoài các cây trồng, vật nuôi còn có khá nhiều thực vật và động vật tự nhiên, đó là một điều may mắn cần tận dụng và gìn giữ.
    1) Cây trồng vật nuôi
    Cây trồng, vật nuôi nguồn gốc là thực vật và động vật hoang dã, được chọn lọc, thuần hóa, cho nên về cơ bản sinh vật nuôi trồng địa phương là sinh vật phù hợp với môi trường. Do đó đi trên đất Nam Định, nhất là vào mùa mưa, chỉ thấy đồng lúa bát ngát, xanh rờn. Ra sát biển, cây trồng phù hợp với đất lợ là cói, một cây công nghiệp cho vô vàn sản phẩm tiêu dùng hữu ích như chiếu, làn, túi xách...Tại các vùng đất cát ven sông, cây phù hợp là rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày ưa khô chỉ trong mùa cạn. Trong tập đoàn cây công nghiệp tại Nam Định đáng chú ý có đay (ven sông Hồng), mía (vùng châu thổ hiện tại trong đê biển), đậu tương (đất bãi bồi cao), lạc (đất cồn cát cổ).
    Trong các vườn làng là cả một tập đoàn cây ăn quả và cây lâu năm khác. Các điểm quần cư nông thôn thường chọn nơi cao ráo như gờ đất ven sông cũ, các cồn cát cũ, nếu là bãi bồi thì thường phải đào ao vượt thổ. Ngoài bờ biển, để chống cát bay đã trồng phi lao cố định cát và lấy bóng râm. Vùng bãi triều được phai khá mạnh để nuôi tôm quảng canh và thâm canh.
    2) Sinh vật tự nhiên
    Thực vật tự nhiên chủ yếu mọc trên các bãi triều, từ ngoài vào trong là quần xã cỏ chịu mặn, rồi đến cây rừng ngập mặn. Trên các cồn cát có muống biển, sam biển, muối biển. Tại các bãi triều có cỏ gấu, cỏ gà và đặc biệt là cỏ ngạn
    Động vật đáy bao gồm các loài thân mềm như ngao, vọp, sò và một số loài cua, tôm phổ biến nhất là tôm rảo, tôm sú, tôm lớt. Những động vật này tập trung ở các đáy cát hoặc bùn cát của vùng cửa sông.
    Chim: Cửa sông Hồng là nơi dừng chân và trú đông quan trọng của chim di cư. Tại Nam Định có một khu bảo tồn thiên nhiên Giao Thủy được thành lập năm 1989 với diện tích 12.000ha. Có gần 200 loài chim, trong đó có một số loại được ghi vào sách đỏ quốc tế./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  5. #5
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Môi trường tự nhiên và sự phát triển bền vững của tỉnh Nam Định

    Sức lao động của tự nhiên bắt nguồn từ động lực phát sinh và phát triển của các hệ địa – sinh thái các cấp mà toàn tỉnh Nam Định được coi như là bộ phận đông nam của châu thổ sông Hồng, sau đến các vùng, các cảnh quan và các dạng địa lý trong tỉnh


    Qua phân tích đặc điểm cấu trúc địa lý tự nhiên tỉnh Nam Định như trên, có thể xem xét tác động của môi trường địa lý tự nhiên đến sự phát triển bền vững của tỉnh. Như đã biết, phát triển bền vững là phát triển kinh tế và xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhưng không làm tổn hại ô nhiễm môi trường, cơ sở vật chất cho hôm nay và cho mai sau của sự phát triển. Hiện nay, các thiệt hại do môi trường suy thoái và tài nguyên giảm hoặc cạn kiệt đã lộ rõ, khiến cho sự phát triển bền vững đã được mọi người quan tâm.
    Sức lao động của tự nhiên bắt nguồn từ động lực phát sinh và phát triển của các hệ địa – sinh thái các cấp mà toàn tỉnh Nam Định được coi như là bộ phận đông nam của châu thổ sông Hồng, sau đến các vùng, các cảnh quan và các dạng địa lý trong tỉnh. Tỉnh Nam Định là một trong ba đỉnh của tam giác châu, cũng là tam giác phát triển của đồng bằng sông Hồng, một vùng đông dân và trù phú nhất ở miền Bắc Việt Nam. Vị trí đông nam châu thổ sông Hồng nói lên tầm quan trọng của Nam Định trong dòng trao đổi giữa nội địa và duyên hải Bắc Trung Bộ, vì Bắc Trung Bộ có quan hệ với Bắc Bộ cả về tự nhiên và kinh tế - xã hội chặt chẽ hơn là vơi Nam Trung Bộ nói riêng và miền Nam Việt Nam nói chung. Tỉnh Nam Định cần khai thác tốt vị trí thuận lợi này đã công nhận từ xa xưa, khi thành phố Nam Định là điểm sầm uất thứ ba trong ba đỉnh của châu thổ, đứng sau Hải Phòng do chức năng cảng xuất nhập khẩu của thành phố ven biển và sau Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa toàn châu thổ sông Hồng và toàn quốc. Nếu Nam Định không phát triển mạnh vùng duyên hải, rõ ràng là làm giảm yếu dòng nội địa – duyên hải. Còn nếu đường quốc lộ 10 không được phát huy thì dòng duyên hải Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ bị tê liệt. Cuối cùng các huyết mạch giao thông giữa Hà Nôi – Hải Phòng – Nam Định – Ninh Bình là cơ sở để phát triển tổng hợp các dòng nội địa và duyên hải.
    Rừng ngập mặn và vùng RAMSAR Xuân Thuỷ là nguồn tài nguyên quý giá, có ý nghĩa bảo vệ và nuôi dưỡng hải sản, đồng thời là điểm du lịch sinh thái có giá trị. Điều kiện nhiệt - ẩm cho việc khai thác nông nghiệp là dồi dào, số giờ nắng, tổng nhiệt độ cân bằng nước dương cho phép thâm canh, tăng vụ, có thể làm hai vụ lúa và 3 – 4 vụ rau màu. Như vậy, không những Nam Định đã đảm bảo được an toàn lương thực và nông hải sản cho toàn dân trong tỉnh, mà còn dư thừa để chế biến bán ra trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Cơ cấu mùa vụ và cây trồng có thể linh hoạt thay đổi để đáp ứng kinh tế thị trường trong nước và xuất khẩu. Để phát triển bền vững và lâu dài, điều đầu tiên là phải đảm bảo sự ổn định của các hệ địa sinh thái, nhất là các hệ kém ổn định như cảnh quan bãi bồi ngoài đê sông, cảnh quan bãi bồi thấp úng trong đê sông, cảnh quan châu thổ hiện tại trong đê biển, cảnh quan bờ biển hiện tại ngoài đê biển. Ngoài ra cần trồng rừng ngập mặn và rừng trên các đồi sót, đầu tư cải tiến các điều kiện tự nhiên không thuận lợi như bão, lụt, hạn, úng, biển lấn gây ra.
    Xét về mặt công nghiệp trên giác độ tự nhiên thì Nam Định có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành vật liệu xây dựng, nội thất, gốm sứ, tơ lụa, bông sợi, may mặc, ngoài ngành chế biến nông – hải sản đã nói ở trên. Trên giác độ kinh tế - xã hội, Nam Định có nguồn lao động dồi dào, có truyền thống văn hóa, nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền, nên cần phải xây dựng nền công nghiệp toàn diện dựa vào nguồn nguyên liệu nhập. Các ngành như cơ khí chính xác, điện tử, hóa chất có thể phát huy cơ sở lao động – văn hóa vốn có của tỉnh và vị trí duyên hải là một lợi thế. Có thể biến vùng bờ biển mài mòn thành một lợi thế để phát triển cảng ở cửa Hà Lạn, ít ra là một cảng cá để đánh bắt hải sản xa bờ trên đại dương.
    Sự phát huy thế mạnh của tự nhiên và hạn chế mặt hại của nó cũng không tách rời hoàn cảnh kinh tế - xã hội – nhân văn, đó là hai mặt thống nhất của hệ thống tự nhiên – con người, nhất là trong hoàn cảnh của tỉnh hầu như không còn cảnh quan tự nhiên do con người đã khai thác lãnh thổ từ lâu đời. Phải giáo dục cho mọi người gắn bó với tự nhiên, yêu mến và bảo vệ tự nhiên để xây dựng cảnh quan văn hóa giàu đẹp. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải xây dựng tốt mạng lưới đô thị, lấy thành phố Nam Định làm trung tâm phát triển, giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh, bao gồm cả đô thị lẫn nông thôn./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  6. #6
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Quá trình phát triển dân số Nam Định

    Các kết quả nghiên cứu khoa học từ đầu thế kỷ XX đến nay đã đi đến những kết luận rằng, Nam Định là một địa bàn từ rất sớm đã có con người cư trú, gắn liền với quá trình chinh phục, khai phá của cư dân người Việt ở châu thổ sông Hồng


    Ngoại trừ vùng duyên hải như Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thủy (huyện Giao Thủy hiện nay, khác với địa giới huyện Giao Thủy có từ thời Lê được ghi chép trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi) được coi là vùng đất trẻ mới được bồi tụ và khai phá sau này, vùng đất phía Bắc tỉnh Nam Định là vùng đất cổ gắn liền với quá trình định cư của cư dân người Việt từ hàng ngàn năm trước, cùng góp phần tạo nên nền văn minh sông Hồng. Các nghiên cứu về thời tiền sử và sơ sử cho biết, ngay từ thời văn hóa Phùng Nguyên, ở một số nơi trên đất Nam Định đã có con người sinh sống.
    Tài liệu ghi chép về số dân của Nam Định qua các thời kỳ lịch sử là vô cùng hiếm hoi, tuy thế, những nghiên cứu về quá trình hình thành công đồng dân cư ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung và Nam Định nói riêng cho thấy số cư dân ở Nam Định trước đây không lớn và biến động liên tục.
    Theo thống kê của Quốc sử quán triều Nguyễn trong Đại Nam thực lục vào đầu thời Minh Mệnh (1820), tỉnh Nam Định có 58.003 người và đến cuối đời Tự Đức có 70.898 người. Tuy nhiên, tỉnh Nam Định thế kỷ XIX còn bao gồm phần lớn tỉnh Thái Bình, tương ứng với trấn Sơn Nam Hạ trước đó, vì thế việc xác định rạch ròi về số lượng dân cư gặp không ít khó khăn. Theo Sĩ hoạn tu tri lục, vào đầu Minh Mệnh, toàn bộ nhân đinh của 11 trấn Bắc Thành là 186.229 người, trong đó năm nội trấn Bắc Thành là 186.229 người, trong đó năm nội trấn, tương đương khu vực đồng bằng Bắc Bộ chiếm tới 84,69% dân số của cả 11 trấn với 157.616 nhân đinh, trong đó riêng trấn Nam Định là 34.239 người. Rõ ràng, sự sai lệch qua các số liệu về cư dân là một hạn chế trong việc nhận diện về quá trình phát triển dân số Nam Định .
    Kết quả cuộc điều tra dân số dưới thời thuộc Pháp năm 1931 theo tài liệu của P.Gourou trong tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ cho biết dân số đồng bằng Bắc Bộ khoảng 6,5 triệu người và mật độ trung bình là 430 người/km2, sai số ít nhất là từ 10-15%. Theo tài liệu thống kê và các tài liệu khảo sát thực địa của Gourou, Nam Định là một trong các tỉnh có mật độ dân cư đông nhất ở đồng bằng Bắc Bộ, trong đó nơi tập trung nhất là hai bên bờ thượng lưu sông Đại Giang. Vào thời điểm này, toàn bộ Bắc kỳ có 580 làng có trên 5.000 dân, thì 413 làng là ở Nam Định và Thái Bình.
    Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 1999, Nam Định có 1.888.409 người là một trong sáu tỉnh có dân số đông nhất trong cả nước, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội, Hà Tây.
    Do mật độ dân cư đông mà diện tích đất canh tác ít đã tác động không nhỏ đến tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương. Vì vậy mặc dù người dân đã cố gắng tận dụng thâm canh đất đai, nhưng đời sống nông dân nói riêng và nhân dân nói chung vẫn thấp vì sản lượng lương thực quy thóc/ đầu người dân mới đạt từ 342kg/người (năm 1991) lên 460kg/người (năm 1996) và 506kg/ người (1998). Chính sức ép đó đã khiến Nam Định nói riêng và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nói chung phải cố gắng giảm tốc độ gia tăng dân số và tìm cách đưa dân đi khai thác vùng kinh tế mới, song song với việc thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng để cân đối lương thực.
    Chính vì vậy, cư dân Nam Định hiện nay, phần lớn là cư dân nông thôn nông nghiệp (87,6%) tạo ra một lượng sản phẩm kinh tế chiếm trên 40% GDP toàn tỉnh.
    Tổng hợp chung, chỉ số phát triển của dư dân Nam Định là 0,71, chỉ sau các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (do việc thu nhập khai thác từ dầu mỏ được tính vào GDP), Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Thái Bình, Hải Dương.
    Nếu tính theo chỉ số nghèo khổ tổng hợp về mức sống cư dân (HPI) thì tỉnh Nam Định xếp thứ 16/61 tỉnh thành trong cả nước./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  7. #7
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Thế đứng hành cung Thiên Trường


    Nghiên cứu di sản văn hoá Trần ở Việt Nam, các nhà khoa học ngành xã hội nhân văn khẳng định không nơi đâu lại phong phú và đậm dấu ấn như vùng đất Thiên Trường



    "Giải mã" từ lòng đất
    Nghiên cứu di sản văn hoá Trần ở Việt Nam, các nhà khoa học ngành xã hội nhân văn khẳng định không nơi đâu lại phong phú và đậm dấu ấn như vùng đất Thiên Trường. Khác với kinh đô Thăng Long, trải qua biến cố lịch sử, dấu vết kinh đô khó xác định thì trái lại, các nhà khoa học đã phát hiện khối lượng di vật phong phú đa dạng tại các địa danh vùng đất Tức Mặc. Từ những năm 60, 70 của thế kỷ 20, trong khi canh tác, người dân địa phương đã phát hiện nhiều di vật thời Trần dưới lòng đất như: giếng cổ được tạo bởi 152 chiếc bao nung ở phía sau chùa Phổ Minh, những sản phẩm gốm hoa nâu, ngói, đầu rồng, sành sứ. Các nhà khoa học, đã "khoanh vùng" sự chú ý vào các di chỉ, di tích thời Trần tiêu biểu tập trung tại 4 xã phía bắc thành phố Nam Định là Lộc Vượng, Lộc Hạ, Mỹ Trung, Mỹ Phúc. Qua các đợt khai quật đã tìm thấy 6 mảnh gốm có chữ "Thiên Trường Phủ chế" cho phép suy đoán có thể quanh Phủ Thiên Trường chính là nơi "xuất phát điểm" của gốm hoa nâu; đồng thời là nơi sản xuất các sản phẩm gốm cao cấp cùng với Thăng Long - Hà Nội, Tam Thọ, Thanh Hoá. Đặc biệt, từ tháng 6 đến tháng 12-2006, Sở Văn hoá - Thông tin đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành thám sát khai quật khu vực các di tích Hậu Bồi, Vạn Khoảnh, Đệ Tam Tây, Lựu Phố và khu vực cánh đồng giữa chùa Phổ Minh và đền Trần với tổng diện tích là 2100m2. Kết quả, đã phát hiện hàng vạn di vật có niên đại và tầng văn hoá kéo dài từ thế kỷ 13 - 19 như: gạch lát nền hình vuông có chữ "Vĩnh Ninh Tường", các loại ngói mũi lá, ngói mũi sen kép, mũi sen đơn, ngói cong; dấu tích các bờ đá kè, nền sân, nền gạch, xuất lộ dấu tích kiến trúc mới như dải "hoa chanh", các ô vuông bát giác dạng "Bồn hoa", các móng trụ.... bước đầu nhận diện về kiến trúc cung Trùng Hoa cổ của các vua Trần. Với hiện trạng nói trên, các di tích vừa được phát hiện có ý nghĩa khoa học rất lớn. Đó là "khám phá" về một mặt bằng kiến trúc hiếm có niên đại chuẩn của thời Trần (thế kỷ 13-14). Các dấu tích kiến trúc ở đây có sự tương đồng với kiến trúc Trần ở Thăng Long, bởi vậy thông qua việc nghiên cứu các di tích này sẽ góp phần xác định niên đại cho nhiều di tích Trần ở Thăng Long - Hà Nội như Đại La, Lý, Lê thuộc khu vực Cấm Thành. Theo GS.TS Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội đồng bảo vệ di sản: Những di tích, di vật được phát hiện qua đợt khai quật có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, là cơ sở khoa học khẳng định Hành cung Thiên Trường là kinh đô thứ 2 của nhà Trần sau Thăng Long.
    Nghiên cứu tổng thể chùa Tháp, giới nghiên cứu đã tìm thấy nhiều dấu ấn mang tính đặc trưng của văn hoá Trần. Đặc biệt là hệ thống chân tảng chạm cánh sen (có kích thước 60cm x 60cm, thậm chí có viên tới 75cm x 75cm) được xếp đặt theo đồ án kiến trúc kiểu chữ công (I). Có thể coi đây là đồ án kiến trúc mặt bằng theo kiểu chữ công (I) sớm nhất của các ngôi chùa Việt Nam vẫn còn được định vị và các thế kỷ sau tiếp tục bảo lưu và phát triển thành "Nội công ngoại quốc". Trước chùa là cây tháp Phổ Minh, cây tháp cổ được xây dựng qua 7 thế kỷ, có thể nói còn khá hoàn chỉnh (những cây tháp chùa trước đó bị quân Minh phá huỷ thế kỷ XV). Các nhà xây dựng, kiến trúc đã kiểm định, qua 700 năm cây tháp chỉ nghiêng chưa tới 1 độ, với một kết cấu nền móng tháp bền vững. Nền móng xây tháp được thừa kế kỹ thuật xây tháp thời Lý, nhưng được xử lý hết sức kỹ thuật ở vùng đồng chiêm trũng: Nghệ nhân xưa dùng chỉ sỏi, đất sét đầm chặt ở một độ sâu 25cm, với bình diện 8m x 8m để xây toà tháp lên trên. Tầng đế tháp được xây theo kiểu khám thờ với các chi tiết chạm khắc sóng nước, mây trời, hoa chanh, hoa cúc, cỏ linh chi.... đó là những biểu dạng của tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm. Và, cũng ở ngôi chùa này, thượng điện được thờ bộ ba Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) cùng đồng thời với bộ ba Đức Phật tổ: Phật Thích ca, Átlan, Ca diếp. Tượng Trần Nhân Tông niết bàn được biểu đạt hình tượng một vị Phật tổ, một đấng quân vương đã làm trọn nhiệm vụ với non sông đất nước (lãnh đạo quân dân Đại Việt chiến thắng giặc Nguyên - Mông) đồng thời là người tiếp thu đạo Phật một cách sáng tạo, và đề xuất ra một tông phái Phật giáo phù hợp với điều kiện địa lý, nhân văn của Đại Việt thế kỷ XIII mang tinh thần tự lập, tự cường, giàu lòng nhân ái và tính nhập thế sâu sắc. Chính những tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm phù hợp với đặc điểm địa - văn hoá Việt Nam, nên nó có sức sống lâu bền qua suốt 7 thế kỷ nay.
    Diện mạo văn minh
    Thiên Trường
    Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", nhà Trần đã xây dựng miếu để thờ cúng tổ tiên từ trước khi Trần Cảnh lên ngôi vua: "Tân Mão năm thứ 7 (1231), tháng 8 mùa thu, nhà vua ngự đến hành cung Tức Mặc làm lễ hưởng ở Tiên Miếu". Tấm bia "Nam Mặc miếu trách bi ký" dựng năm Duy Tân 9 (1915) có đoạn: "Tức Mặc đế hương dã, Trần Miếu tại yên" (Tức Mặc là quê hương của nhà vua, miếu nhà Trần ở đấy). Vùng đất Tức Mặc, nơi dấy nghiệp và lập căn cứ địa của 3 lần chống giặc Nguyên - Mông, theo thuyết phong thuỷ xưa có dạng "ngoạ long" là thế đất đẹp, phát về đường đế vương, khanh tướng. Thực tế lịch sử triều đại Trần - đỉnh cao của văn minh Đại Việt với rất nhiều đức anh quân, văn thần, võ tướng đã minh chứng.
    Ngay từ năm 1239, Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều Trần đã cho xây dựng ở đây nhiều đền đài, cung điện nguy nga, tráng lệ. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi rõ: "Đến năm 1262, vào tháng 2, Thượng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc ban tiệc to. Đổi hương Tức Mặc làm Phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang. Lại mà cung riêng cho vua đương triều đến chầu ở, gọi là cung Trùng Hoa... Từ đây về sau các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này". Bao bọc khu cung điện là dinh thự, thái ấp của các tướng lĩnh cao cấp của triều đình. Thái ấp Quắc Hương của Thượng phụ Thái sư Trần Thủ Độ, thái ấp Cao Đài của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải...Trong suốt 175 trị vì, Phủ Thiên Trường được coi như kinh đô thứ 2, là phên dậu vững chắc phía Nam kinh thành Thăng Long. Nhà thơ đương thời Phạm Sư Mạnh từng ca tụng:
    "Tức Mặc hành đô cảnh lạ lùng
    Dân vui đời thịnh lại thuần phong".
    Dấu tích về một vương triều vàng son còn lưu lại đến nay qua hệ thống di sản văn hoá đậm đặc và phong phú, với những ngọc phả, gia phả, thần tích ghi lại những hoạt động dựng nước và giữ nước của hoàng gia, công hầu triều Trần trên mảnh đất này. Bên cạnh đó là hàng loạt địa danh cổ như: '' Cánh đồng Nội Cung, Cửa Triều, Kho Nhi (thuộc nội cung xưa); Vườn Dinh, Vườn Quan, Cảnh Phú (dinh thự của các quan, nơi quan tập trung trước khi vào bái kiến Thượng hoàng); các làng Phù Hoa, Lựu Phố, Liễu Nha để vua quan đi vãn cảnh; Phượng Bông khu ở cũ của ca vũ; Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ. Văn Hưng, Cồn Đình (nơi giảng văn, hội Tao Đàn tụ họp); Ao Bến trên bờ sông Vĩnh Giang, hồ Bến Đinh, căn cứ thuỷ quân của nhà Trần... Những di vật khảo cổ học phát hiện từ trước đến nay đã giúp cho đời sau hình dung phần nào diện mạo, quy mô rộng lớn của hành cung Thiên Trường xưa. Ngoài ra, Nam Định đang sở hữu 225 di tích liên quan đến nhà Trần, phân bố trên phạm vi rộng, ở tất cả các huyện. Trong đó, đền Bảo Lộc, xã Mỹ Phúc (Mỹ Lộc) và khu di tích Lịch sử - Văn hoá Đền Trần, Chùa Tháp phường Lộc Vượng (thành phố Nam Định) được xem là điển hình của di sản văn hoá Trần ở Việt Nam. Theo "Nam Định dư địa chí" của Ngô Giáp Dậu, Bảo Lộc là nơi lập ấp của An Sinh Vương Trần Liễu gọi là ấp An Lạc. Cuốn "Thái Vi quốc tế ngọc ký" phần ngọc phả nhà Trần cũng ghi rõ ".... Khu Thiên Bồi dành cho Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, khu Bảo Lộc dành cho Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Tất cả đều đặt dân tạo lệ, ấp thang mộc". Còn đền Cố Trạch, đền Thiên Trường, ngày nay được xây dựng trên nền cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa xưa của nhà Trần. Nơi đây từ lâu đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng, lưu giữ nhiều hình thức lễ nghi, hội hè, các phong tục cổ truyền độc đáo của dân tộc. Đặc biệt, mỗi dịp "Tháng 8 giỗ Cha", lễ hội Trần lại tưng bừng diễn ra với các hoạt động phong phú, đặc sắc: Chọi gà, biểu diễn võ thuật 3 thế hệ, đấu vật, múa lân, chơi cờ thẻ, đi cầu kiều, múa bài bông.... với ý nghĩa tưởng nhớ các nhân vật anh hùng, tướng lĩnh kiệt xuất thời Trần, tôn vinh triều đại Trần, nhiều thế kỷ qua, những di tích này luôn được quan tâm bảo tồn, tôn tạo. Ở các triều đại phong kiến, đền Trần được tu sửa lớn vào các năm Chính Hoà 15 (1694), Tự Đức 6 (1853), Duy Tân 9 (1915). Hiện tại, cùng với chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng (Xuân Trường), Khu di tích Phủ Giầy (Vụ Bản), Khu di tích Đền Trần - Chùa Tháp được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, được Chính phủ phê duyệt xây dựng quy hoạch tổng thể để bảo tồn tôn tạo, phát huy giá trị, cùng với văn hoá đất nước vững vàng bản sắc trong thế đứng của cộng đồng văn hoá nhân loại./.


    (Nguồn Báo Nam Định)

  8. #8
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    744 năm kiến trúc thành phố Nam Định

    Thành phố Nam Định được thành lập cách đây hơn 744 năm (năm Nhâm Tuất 1262) và tổ chức theo mô hình thành thị phong kiến với phần thành nặng hơn phần thị


    Thành phố Nam Định được thành lập cách đây hơn 744 năm (năm Nhâm Tuất 1262) và tổ chức theo mô hình thành thị phong kiến với phần thành nặng hơn phần thị. Thành phố Nam Định còn là một vị trí quân sự quan trọng, thời Gia Long được xây thành gọi là Thành Nam Định (1804-1895). Lúc đầu Thành được đắp bằng đất, đến đời Minh Mạng tường đất được thay thế bằng tường gạch, cao 5m, chu vi 3,5km, có hào sâu bao bọc, sông Đào cũng là một ranh giới phía Đông và Đông Nam. Ngoại thành gồm hương Tức Mạc, Phủ Thiên Trường quê hương của các vua Trần và một số làng, xã thuộc huyện Mỹ Lộc thời đó trải dài trên các phương Bắc, Tây, Nam. Địa giới từ lúc thành lập đến nay đã có nhiều thay đổi, hiện nay thành phố rộng khoảng 45km2, gồm 20 phường, 5 xã.
    Thành phố có một địa thế rất đẹp, phía Bắc và Đông giáp tỉnh Thái Bình, huyện Mỹ Lộc và huyện Nam Trực; phía Tây giáp huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản; phía Nam giáp huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản. Sông Đào chảy xiết qua thành phố Nam Định theo chiều Đông Bắc - Tây Nam. Sông Hồng làm ranh giới tự nhiên với tỉnh Thái Bình. Theo diện rộng của cả nước, thành phố nằm ở trung tâm khu vực phía Nam đồng bằng Sông Hồng. Phía bắc cách Phủ Lý 30km, cách Hà Nội 98km. Phía nam cách cảng biển Thịnh Long 60km (theo đường 21), phía đông cách thành phố Thái Bình 20km, phía tây cách tỉnh lỵ Ninh Bình 30km. Như vậy thành phố Nam Định nằm trên một đỉnh của khu tam giác Nam Định - Ninh Bình - Phủ Lý (Hà Nam) hội tụ các tuyến đường 10, 12, 21, 38, lại có đường sắt Bắc - Nam chạy qua. Tất cả những yếu tố đó đã góp phần tạo cho thành phố Nam Định đầu thế kỷ 20 trở thành một thành phố có cấu trúc đô thị hiện đại theo kiểu phương Tây.
    Dân số thành phố hiện nay khoảng 25 vạn người, một con số khá cách biệt với năm 1945 chỉ có 5 vạn người và 10 vạn người năm 1954.
    Lúc mới thành lập, người dân thành phố sống với những nghề đơn giản, sản xuất bằng thủ công, buôn bán nhỏ, chủ yếu là nghề làm ruộng. Theo thời gian nghề được phát triển và mở rộng như: may mặc, thêu ren, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, bánh kẹo, cơ khí, vận tải, dịch vụ, ăn uống, dạy học... Nghề dệt là nghề phát triển và được nhiều người quan tâm. Tuy vậy, với con mắt của những nhà đầu tư thì nơi này là một địa điểm thích hợp cho việc xây dựng các nhà máy. Xuất phát từ đó mà năm 1889 một chủ đầu tư người Pháp đã đến đây xây dựng nhà máy Sợi. Tiếp đến các chủ đầu tư khác cũng xây dựng nhiều nhà máy như: Nhà máy Tơ, nhà máy Điện, nhà máy Nước, nhà máy Chai, nhà máy Rượu...
    Kiến trúc nhà máy của thành phố Nam Định được đầu tư xây dựng khá sớm và đồng bộ ngay từ cuối thế kỷ 19. Lĩnh vực chính thuộc về dệt và sản phẩm, đã nổi tiếng trên thế giới, đưa thành phố trở thành "Thành phố Dệt". Từ đó đến nay, các loại nhà máy vẫn tiếp tục được xây dựng phù hợp với năng lực sản xuất của địa phương, như nhà máy thực phẩm xuất khẩu, nhà máy cơ khí... Đặc biệt ngành may mặc đã xây dựng và mở rộng rất lớn như Cty cổ phần may Nam Hà, Cty cổ phần may Sông Hồng... đưa thành phố lên tầm mới với đặc trưng "Thành phố Dệt May". Song song với ngành dệt, ngành may, ngành cơ khí, ngành thực phẩm, đã ra đời với những nhà máy bia, nước giải khát là một loại nhu yếu phẩm phục vụ kịp thời yêu cầu của xã hội... Về quy hoạch, kiến trúc, các nhà máy được đưa về những địa điểm mới như Khu công nghiệp Hoà Xá, Mỹ Trung, Cụm công nghiệp An Xá... đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong, ngoài nước. Những nhà máy cũ đang từng bước di dời vào khu, cụm công nghiệp để góp phần xây dựng bộ mặt kiến trúc của thành phố ở giai đoạn mới.
    Kiến trúc dân dụng như công sở, nhà ở, trường học... trong 744 năm, khởi đầu là công trình kiến trúc cung đình nhà Trần ở Tức Mạc (một công trình nguy nga tráng lệ được coi là chỉ đứng sau cung đình Thăng Long - Hà Nội) cho đến ngày nay kiến trúc thành phố đã có một bước tiến dài:
    Từ những công trình một tầng, đơn giản vật liệu tranh tre, nứa lá, gạch, gỗ thông dụng ngày nay đã có một thành phố đa phần là nhà cao tầng. Với 3 loại nhà: nhà tạm, nhà cấp 4, nhà vĩnh cửu, đã đáp ứng được nhu cầu nhà cửa các giai đoạn phát triển kể cả thời bình và thời chiến. Trong thời chống quân Nguyên Mông tại thành phố Nam Định nhà Trần có rất nhiều quân, nhưng quân doanh không xuất hiện, đến nay vị trí vẫn chưa được xác định cụ thể. Trong thời chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ (1965-1972), giặc phá ta xây, xây trên mặt đất, xây dưới mặt đất, xây trong thành phố, xây nơi sơ tán, bảo đảm có công trình để sản xuất và đánh thắng giặc. Sau chiến tranh, nhà tạm đã đáp ứng đón dân sơ tán trở về, đón các em tới trường tiếp tục học tập. Phát huy được vốn kiến trúc truyền thống vào việc tu sửa, cải tạo nâng cấp và xây mới các công trình tín ngưỡng như chùa Vọng Cung, chùa Cả, khu di tích văn hoá Đền Trần, khu Hồ truyền thống, Bảo tàng cổ vật... thành những công trình đẹp có giá trị nhiều mặt. Đồng thời, bảo tồn được những công trình kiến trúc mang đậm tính lịch sử như nhà số 7 Bến Ngự, những công trình kiến trúc cổ có giá trị như nhà ông Nguyễn Ngọc Đạt số 187 đường Hùng Vương. Vận dụng được kiến trúc hiện đại của thế giới vào xây dựng thành phố từ cuối thể kỷ 19 đã mang lại hiệu quả như giải quyết được kết cấu móng các công trình cao 9-10 tầng xây trên nền đất yếu. Khung vượt khẩu độ lớn của các nhà hội trường, rạp hát, rạp chiếu bóng, nhà thi đấu thể thao bảo đảm an toàn và ổn định. Giải quyết được cách âm của trần nhà, chống nóng, lạnh, chống thấm dột, chống gió bão cho mái nhà. Đưa vật tư trang trí, hoàn thiện tốt làm cho ngôi nhà đẹp, đủ điều kiện chống bám bụi, chống rêu phong, chống phong hoá do khí hậu nóng ẩm, gió mùa. Đưa các máy móc, thiết bị mới, hiện đại vào lắp đặt ở khu bếp, khu vệ sinh, điều hoà nhiệt độ trong nhà... Tất cả những yếu tố đó kết hợp với lòng đam mê nhiệt tình của các kiến trúc sư, kỹ sư, đã đưa lại cho thành phố những công trình kiến trúc đa dạng về hình khối, màu sắc đẹp, chất lượng tốt, sử dụng thuận tiện, đầu tư hợp lý chẳng khác gì những ngôi nhà theo kiến trúc Pháp, kiến trúc châu Âu, châu Mỹ.
    (còn nữa)

  9. #9
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Tốc độ xây dựng đã bước đi đúng nhịp nhanh, chậm theo tiến trình lịch sử, kinh tế, xã hội của thành phố. Những năm 1975-1990 hầu như công trình kiến trúc mới trong thành phố không đáng kể. Nhưng từ năm 1990 đến nay khi thành phố đã trở thành đô thị loại II, quốc lộ 10 và 21 đã và đang được nâng cấp đầy đủ; kinh tế thị trường đã chính thức hoà nhập, tốc độ xây dựng thành phố đã được nâng lên một tầm mới. Đường phố đã có nhà 4-5 tầng hình khối đa dạng, màu sắc đẹp, chất lượng tốt. Các khu đô thị mới đã được quy hoạch và khởi công xây dựng như Khu đô thị Hoà Vượng.
    Quy hoạch thành phố đã được mở rộng và định hướng đến năm 2020. Quy hoạch chi tiết 2/3 số phường, xã đã được xác lập để điều hành và quản lý xây dựng đúng pháp luật.
    Nói tóm lại 744 năm kiến trúc thành phố Nam Định đã để lại một kho tàng lịch sử quý báu, có giá trị, tạo tiền đề, tạo cơ sở để các cấp lãnh đạo của tỉnh và thành phố, cho những người kiến trúc sư, kỹ sư, cho những người làm nghề xây dựng và cho nhân dân thành phố nói chung trong tiến trình thực hiện Nghị quyết số 54-NQ-TW ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 19-5-2006 về quy hoạch tổng thể phát triển thành phố Nam Định đến năm 2020: "... Chỉnh trang, hiện đại hoá các đô thị lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Nam Định...", xây dựng thành phố Nam Định thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ, đào tạo làm hạt nhân phát triển của tiểu vùng Nam đồng bằng Sông Hồng". Theo đó, thành phố Nam Định là trung tâm một số ngành công nghiệp, đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế - chăm sóc sức khoẻ - nghiên cứu y học, văn hoá du lịch, thể thao - phát triển thành phố Nam Định với tầm nhìn dài hạn, hướng tới văn minh hiện đại, giữ gìn bản sắc riêng biệt của thành phố. Phát triển mở rộng gắn kết với các vùng phụ cận, các khu đô thị mới được xây dựng hiện đại, có kết cấu hạ tầng đồng bộ. Kiến trúc đô thị có bản sắc riêng của vùng. Xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng của thành phố đạt các chỉ tiêu của đô thị loại II và tiến tới đạt các chỉ tiêu của đô thị loại I, đảm bảo đáp ứng yêu cầu của đô thị trung tâm vùng. Dự báo dân số năm 2010: 511000 người, năm 2020: 955000 người, quy mô đất năm 2010: 2140ha, năm 2020: 45127ha.
    Dự kiến đến năm 2020 thành phố được chia thành 4 khu chức năng:
    - Khu trung tâm (khu phố cũ): là nơi đặt trung tâm chính trị, hành chính, văn hoá của tỉnh và thành phố.
    - Khu phát triển mở rộng về phía Bắc: Xây dựng một số công trình có quy mô, tính chất vùng như: công viên, văn hoá, du lịch Tức Mạc, làng cổ Tức Mạc, khu di tích Đền Trần, chùa Tháp, khu liên hợp thể dục - thể thao. Khu các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, và nghiên cứu khoa học, các bệnh viện.
    - Khu mở rộng về phía Tây và Tây Nam: Bố trí các khu công nghiệp tập trung, kho bãi, là đầu mối giao thông đường sắt, đường bộ.
    - Khu phát triển mở rộng về phía Nam sông Đào: Cải tạo xây dựng các khu dân cư, làng xóm cũ thành một quần thể làng sinh thái. Trồng hoa, cây cảnh với xây dựng mô hình làng sinh thái. Vùng đất phía Tây gần sông Đào dự phòng để phát triển công nghiệp.
    Xây dựng thành phố Nam Định mang đậm bản sắc vùng Nam đồng bằng Sông Hồng, giữ gìn các phố cũ, các đô thị mới xây dựng theo kiểu đô thị vườn. Xây dựng các cửa ô đi vào thành phố.
    Xây dựng thành phố với các đặc điểm kiến trúc thể hiện nền văn minh lúa nước, kết hợp các công trình tiêu biểu (điểm nhấn) như Trung tâm thương mại, Bảo tàng tổng hợp...

    (Nguồn Báo Nam Định)

  10. #10
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Tự nhiên và xã hội

    Sự hình thành cộng đồng cư dân

    Nằm trong bối cảnh chung của đồng bằng sông Hồng, từ hàng ngàn năm trước, trên vùng đất Nam Định đã có con người cư trú


    Nằm trong bối cảnh chung của đồng bằng sông Hồng, từ hàng ngàn năm trước, trên vùng đất Nam Định đã có con người cư trú. Một số nơi trên đất Nam Định, đặc biệt là ở vùng thềm phù sa cổ đã phát hiện những di tích khẳng định sự có mặt từ rất sớm của con người trên mảnh đất này từ thời Phùng Nguyên cho đến Đông Sơn. Cư dân thời bấy giờ chưa hẳn là người Kinh như hiện nay mà có nhiều bằng chứng khảo cổ học ngôn ngữ, kiến trúc, nghệ thuật đã chứng minh rằng, cư dân Nam Định nói riêng và cư dân đồng bằng sông Hồng nói chung thời bấy giờ có gốc Môn – Khowme, Tày – Thái, Nam Đảo.
    Cư dân thời bấy giờ từng bước tiếp xúc với biển và lấn dần ra biển. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, đất đai ven biển tiếp tục được mở rộng. Vào khoảng thế kỷ X, cư dân đã tới vùng đất cửa sông Thái Bình thuộc Hải Phòng ngày nay, còn về phía cửa sông Hồng thì đã tới cửa sông Ninh Cơ. Chính quá trình hình thành đó đã tạo nên những vùng đất đai thuận lợi cho con người cư trú và sản xuất nông nghiệp. Với ưu thế đó, trên vùng đất Nam Định đã cuốn hút cư dân nhiều nơi ở vùng Bắc bộ và vùng Thanh – Nghệ đến khai phá đất đai và lập làng, ấp. Trên vùng đất Nam Định có các luồng cư dân từ vùng châu thổ trung tâm xuống, từ vùng Bắc Trung Bộ đi ra và luồng cư dân từ nơi khác đến theo đường biển vào trong nhiều thời điểm khác nhau.
    Trong nhiều thời điểm khác nhau, các lớp cư dân từ nhiều địa phương khác nhau tiếp tục chuyển cư tới Nam Định. Sự tụ cư của cộng đồng cư dân Nam Định khá đa dạng có liên quan chặt chẽ với quá trình chinh phục đồng bằng duyên hải và sự hình thành làng xã ở khu vực này. Vào thời Lê, nhà nước đã cho đắp đê từ Nghĩa Hưng chạy dọc theo ven bờ biển đến Nga Sơn, Thanh Hóa – nơi tiếp giáp với Ninh Bình. Và do vậy các làng xã ngoài đê đương nhiên là có niên đại hình thành muộn hơn. Theo tài liệu khảo sát ở làng Hoành Nha (Giao Thủy), vào khoảng thế kỷ XV, một số người từ làng Hòe Nha ngoại thành Nam Định ngày nay đã đến đây khai khẩn đất hoang lập ấp Hòe Nha. Tiếp theo ấp Hòe Nha từng bước được bổ sung thêm các dòng họ khác từ nhiều địa phương như Thanh Hóa, Thái Bình và có những dòng họ có nguồn gốc khá xa như dòng họ Tiêu vốn từ Phúc Kiến, Trung Quốc sang từ thế kỷ XVIII.
    Cho tới đầu thế kỷ XV, địa bàn tỉnh Nam Định thuộc Sơn Nam, theo dư địa chí của Nguyễn Trãi, đây là trấn thứ ba trong bốn kinh trấn và là phên dậu phía nam, có 9 lộ, 36 thuộc huyện, 2059 làng xã. Nếu tính theo địa giới hành chính bao gồm: Phủ Nghĩa Hưng có 4 huyện, 245 xã. Phủ Thiên Trường có 4 huyện, 317 xã.
    Mặc dù có một số khác biệt nhưng các tài liệu trên đây cũng cho thấy diện mạo các làng xã đã được hình thành và ổn định trên địa dư tỉnh Nam Định hiện nay vào đầu thế kỷ XIX. Năm 1926, theo Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liên, toàn tỉnh Nam Định gồm 2 phủ, 7 huyện, 78 tổng, 708 xã.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

+ Trả Lời Ðề Tài

Chủ đề giống nhau

  1. Trả lời: 0
    Bài mới: 28-10-2009, 09:40 PM
  2. Thiên nhiên ngẫu hứng qua ống kính nhiếp ảnh
    By xuantruong in forum Phần cứng
    Trả lời: 0
    Bài mới: 20-10-2009, 09:24 AM

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts

LinkBacks Enabled by vBSEO