+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2 1 2 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 15
dqw
  1. #1
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Anh Tông hoàng đế (1293-1314)


    Trần Anh Tông còn gọi là Trần Thuyên quê ở Tức Mạc phủ Thiên Trường (Nam Định) là con trưởng thượng hoàng Nhân Tông, sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (1276) mẹ là Khâm từ Bảo thánh Hoàng Thái Hậu



    Trần Thuyên sinh trưởng trong một gia tộc quyền quý, ông nội là Thánh Tông hoàng đế, lúc đang tại vị rất yêu quý lập làm hoàng thái tôn, sau này vua cha Nhân Tông lên kế vị lập làm Đông cung hoàng thái tử. Từ nhỏ Trần Thuyên đã được ông, cha rèn cặp việc học hành văn chương.
    Trong bối cảnh nước nhà bị chiến tranh, cậu bé Trần Thuyên ít nhiều đã chứng kiến cũng như biết được dư âm về cuộc chiến tranh tự vệ. Chính vì vậy nên năm 17 tuổi được vua cha nhường ngôi, vào ngày 9 tháng 3 năm Quý Tỵ (1293) lấy miếu hiệu là Anh Tông hoàng đế, đã gợi mở trong ông những suy tư về đất nước và thế nào là Tông miếu xã tắc.
    Ngay từ khi lên ngôi hoàng đế, Anh Tông đổi niên hiệu là Hưng Long, đại xã cho thiên hạ, tôn thượng hoàng làm Hiếu Nghiêu quang thánh thái thượng hoàng đế, tôn mẹ làm Khâm từ bảo thánh hoàng thái hậu. Vua cũng ban chiếu về những chữ quốc húy để khi viết, thêm hoặc bớt nét tránh phạm húy.
    Quá trình làm vua 21 năm, Anh Tông hoàng đế trú trọng việc kén chọn nhân tài. Ông biết các vị khai quốc công thần tài ba lỗi lạc như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải đều tuổi cao sức yếu và lần lượt qua đời nếu không có đội ngũ kế cận thì việc trị nước sẽ ra sao?. Do vậy ngoài các danh tướng vào bậc quốc lão như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn... còn tuyển dụng Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Thì Kiến...là đội ngũ mà Anh Tông rất kính trọng và tin tưởng. Dưới triều Anh Tông, triều đình tổ chức kỳ thi “miện sam” tức là thi cho các quan đã từng đỗ thám hoa, bảng nhãn trở xuống để kiểm tra trực tài, bổ dụng làm chức “Hiệu thư quyền miện”, hoặc “Bạ thư mạo sam” sung vào thuộc viên các nha ấy. Do vậy nhân tài được bổ sung có lợi cho quốc gia.
    Chiêm thành tuy đã thuần phục nhưng thướng quấy phá ở phía Nam. Anh Tông bèn cử Đoàn Nhữ Hài đi sứ nhiều lần để vỗ về yên dân hai châu Ô, Lý, đồng thời phủ dụ vua Chiêm. Lại cùng phụ hoàng, gả em gái Huyền Trân cho vua Chiêm, hy vọng thuần phục được phía Nam. Năm Tân Hợi 1311 vua Chiêm là Chế Phí phản trắc, Anh Tông thân cầm quân đánh dẹp, bắt Chế Phí đem về.
    Đối với thế lực phong kiến phương Bắc, mặc dù bị thất bại qua ba lần xâm lược Đại Việt, nhưng dưới thời Anh Tông vào các năm 1293, 1295, 1299, 1312 nhà Nguyên vẫn cho sứ giả sang hạch sách đòi cống phẩm và bắt vua Trần sang chầu...Nhưng vua Trần với lời lẽ mềm dẻo , lý do ốm đau đã khéo léo khước từ , lại có những thái độ cương quyết khiến sứ thần nhà Nguyên phải thất bại trở về. Trong thời gian làm vua, Anh Tông đã có những quyết sách đúng mực thể hiện ý chí sắt đá, bảo tồn lãnh thổ, khi cương, khi nhu nhưng đều đắc thế.
    Đối với quan lại mẫn cán, cương trực như Trần Thì Kiến rất mực thanh liêm thì được cất nhắc. Những công thần đã về trí sỹ ví như Nguyễn Khiên Ngô, hiệu là Lỉễu Nhiễu là người thẳng thắn, nên vua rất quý trọng, thường không gọi tên mà gọi chức để tỏ tự tôn kính người già, khích lệ người cao tuổi mà vẫn đảm đương công việc.
    Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314), Anh Tông hoàng đế nhường ngôi cho con là thái tử Mạnh, tức Minh Tông hoàng đế. Như vậy là Anh Tông ở ngôi 21 năm, 39 tuổi thoái vị, 6 năm làm Thái Thượng hoàng. Ông mất năm 45 tuổi tại cung Trùng Quang phủ Thiên Trường ngày 16 tháng 3 năm 1320 để lại nhiều sự luyến tiếc cho hoàng tộc và nhân dân cả nước. Anh Tông hoàng đế là vị vua có cá tính, bản chất trung hậu phục thiện.
    Đướng lối trị quốc của Anh Tông luôn tạo sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa cho nước nhà. Đặc biệt ông là người biết nhìn người, dám giao trọng trách cho tầng lớp nho sinh ít tuổi mà nổi bật là học sinh Đoàn Nhữ Hải. Từ một nho sinh bình thường trở thành tài ba, lỗi lạc, hoàn thành xuất sắc đại sự mà hoàng đế giao phó.
    Trần Anh Tông còn là một ông vua có tâm hồn thi sĩ và hội họa nên ông lấy việc di dưỡng tinh thần bằng bút. Xin trích bài “Đông sơn tự” để biết thêm về tâm tư của vị hoàng đế đối với chùa cảnh Đông Sơn:
    Phong giao giải hôt thụ Thiền quýnh
    Nguyệt tả quân tri dạ giản hàn
    Hưu hướng Ngũ đài lao mộng mị
    Khan lai thiên hạ kỷ Đông san
    Dịch (Huệ Chi)
    Gió lay Thiền trượng ve im tiếng
    Trăng chảy trong bình suối lạnh hơn
    Mơ ước Ngũ đài chi nữa nhỉ?
    Trên đời hồ dễ mấy Đông sơn

    (Nguồn Hoàng đế triều Trần)

  2. #2
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Minh Tông hoàng đế

    Minh Tông hoàng đế
    Khi lên ngôi ,vua tự xưng là Ninh Hoàng,bá quan văn võ dâng tôn hiệu là:Thể thiên Sùng hoá Khâm minh Duệ hiếu Hoàng đế tức Minh Tông. Ông sinh ngày 21 tháng 8 năm Canh Tí (1300) là con thứ tư của vua Trần Anh Tông và mẹ là Chiêu Hiến Hoàng Thái hậu Trần Thị, con gái của Bảo Nghĩa Đại vương Trần Bình Trọng.



    Khi mới sinh, Trần Minh Tông được đặt tên là Mạnh. Bấy giờ các hoàng tử đẻ ra đều không nuôi được, đến khi hoàng tử Mạnh ra đời, vua Trần Anh Tông nhờ công chúa Thụy Bảo, tức là cô của Trần Nhân Tông nuôi giúp. Công chúa lúc đó đang có vận hạn nên lại nhờ anh ruột là Trần Nhật Duật nuôi hộ. Trần Nhật Duật nhân nuôi chắt nhưng chăm nom, nuôi nấng không khác gì con đẻ. Vì con trưởng của Trần Nhật Duật là Thánh An, con gái là Thánh Ngô nên mới đặt tên cho hoàng tử Mạnh là Thánh Sinh, bởi muốn cho tên hoàng tử cũng giống tên con mình. Trần Nhật Duật nuôi hoàng tử từ lúc bế ngửa đến lúc lên ngôi vua.
    Từ nhỏ, hoàng tử Mạnh đã được dạy dỗ nghiêm túc. Khi hoàng tử ở Đông cung, tuổi còn trẻ thơ, có một lần làm cây đèn bằng tre để chơi. Vua Anh Tông biêt tin đòi xem, hoàng tử Mạnh sợ không dám đưa ra vì trò chơi này không phù hợp với con nhà quý tộc. Một ngày khác vào chầu nơi tẩm điện, Trần Anh Tông đang rửa mặt quay lai hỏi hoàng tử đến việc chơi ấy.Hoàng tử chưa kip nói gì, Trần Anh Tông giận lắm, cầm cả chậu nước ném vào người, may mà hoang tử kịp nấp vào cánh cửa tránh được, chậu vỡ tan.
    Có lần Thượng hoàng Anh Tông ốm, Trần Minh Tông ngày đêm chầu ở ngoài cửa, mỗi khi vào thăm thì đi với Trần Quốc Chẩn. Thượng hoàng rất tin cậy ở ông ta, có định đem Trần Minh Tông uỷ thác cho Quốc Chẩn.
    Vì vậy, thượng hoàng bắt nhà vua mỗi khi vào thăm thì cùng đi với Quốc Chẩn, cốt cho tình nghĩa vua tôi được khăng khít.
    Dưới triều vua Minh Tông trong nước tương đối yên ổn. Ngay sau khi mới lên ngôi, nhà vua rất quan tâm đến đê điều, vì đây là một khâu trọng yếu trong sản xuất nông nghiệp. Năm 1315, nước sông lên to,nhà vua thân chinh đi xem và kiểm tra việc đắp đê. Thấy Trần Minh Tông xuất hiện trên mặt đê, quan Ngự sử đài tâu:”Bệ hạ nên chăm sửa đức chính, đắp đê là việc nhỏ đi xem làm gì “.Hành khiển Trần Khắc Chung nghe vậy đã nói: ‘Lúc dân găp nước lụt hoặc đại hạn, người làm vua cần phải cứu giúp ngay. Sửa đức chính không có viêc gì to bằng việc ấy”.
    Năm Ất Mão (1315), Trần Minh Tông ra lệnh cấm người trong họ không được thưa kiện nhau. Nhà vua xuống chiếu: Nếu ai tranh nhau ruộng đất, khám xét ra không phải là của mình mà cố tranh bậy thì tính số tiền về giá ruộng đất, đất ấy ắt phải bồi thường lại gấp đôi. Nếu làm văn khế giả mạo thì chặt một ngón tay bên trái, còn kiện nhau tranh ruộng mà ruộng có lúa thì hãy chia ra làm hai phần, đền lại cho người cấy một phần, còn một phần lưu lại để xét sau. Năm Bính Thìn (1316), nhà vua duyệt đinh cấp bậc các quan văn võ, rồi cấp cho số hộ nhân khẩu nhiều ít khác nhau. Theo tục trước, quân sĩ đều xăm hình rồng ở trên lưng và hai vế đùi, nhưng bắt đầu từ năm Quý Hợi (1323), nhà nước chỉ tuyển duyệt lấy những người nào béo trắng, nên từ đấy quân sĩ bỏ lệ không xăm hình rồng như trước.
    Các năm Giáp Dần (1314), Quý Hợi (1323), triều đình mở khoa thi Thái học sinh để chọn nhân tài cho đất nước, nhờ vậy quan lại có nhiều người rất có năng lực. Một lần Thượng hoàng Anh Tông về chơi phủ Thiên Trường, Hình bộ Lang trung Phí Trực theo hầu xa giá. giữa lúc ấy có toán cướp do tên Văn Khánh cầm đầu nổi lên ở địa phương. Có người bắt được một tên giặc đưa nộp quan bảo là Văn Khánh. Đến lúc xét hỏi tên ấy nhận liền là Văn Khánh,nên ai cũng cho là thực, chỉ có Phí Trực vẫn lấy làm áy náy nên để vụ án lâu không quyết. Thượng hoàng hỏi tại sao, Phái Trực trả lời: “Kẻ kia không bị roi vọt tra tấn mà tự thú nhận, tôi lấy làm ngờ nên không quyết đoán càn bậy”. Sau quả nhiên bắt được một người khác đúng là Văn Khánh. Thương hoàng khen Phí Trực là một người tài giỏi.
    Trần Minh Tông là con vợ thứ lên nối ngôi. Lúc này Thuận Thanh Bảo Từ Thái hậu, vợ cả Thượng hoàng Anh Tông mới sinh con trai. Ngày đầy tuổi thì Trần Anh Tông đi tuần ở biên giới vắng lên việc trong nhà do Trần Minh Tông quyết định cả. Có người xin theo tư cách Thế tử mà làm lễ, quan Hưu ty có ý ngần ngại. Trần Minh Tông nói: “ Còn nghi ngờ gì nữa, trước đây con đích trưởng chưa sinh cho lên ta tạm quyền ở ngôi vua, nay đã sinh người đích trưởng rồi đợi khi lớn lên ta sẽ trả lại ngôi vua có khó gì”. Được một năm sau thì người con đích trưởng chết, vua Minh Tông rất thương xót. Vua từng dạy các hoàng tử rằng:”Con nào mà cố sức mưu tính sản nghiệp làm giàu thì không phải là con ta. Thà hào phóng mà phải nghèo, dẩu không khỏi túng thiếu thật đấy nhưng không mất tiếng là con nhà sang”. Trần Minh Tông cũng thường nói: “Ông vua dùng người không cần thiên vị với ai. Nếu ta thực là người hiền thì những người mình dùng được cũng là người hiền”.
    Trần Minh Tông vốn là một ông vua có lòng nhân từ nhưng chỉ vì nghe lịnh thần đã giết oan Huệ Võ vương Trần Quốc Chẩn là người có nhiều công lao với nước.Trần Quốc Trẩn là thân sinh ra Hiển Từ Tuyên Thánh hoàng Hậu và lại có công đi đánh Chiêm Thành thắng trận mấy lần. Khi ấy vua Minh Tông ở ngôi vua được 15 năm, tuổi đã cao mà chưa lập thái tử. Triều thần phân làm hai phái, một phái có Văn Hiến hầu và Trần Khắc Chung xin lập hoàng tử Vượng là con bà thứ Ninh từ Hoàng thái phi Lê Thị làm thái tử, còn một phái thì có Trần Quốc Chẩn xin chờ cho hoàng hậu có con trai sẽ lập Thái tử.
    Sau Văn Hiến hầu mới đem của đút lót cho gia thần của Trần Quốc Chẩn là Trần Phẫu 100 lạng vàng, xui nó vu cáo cho Trần Quốc Chẩn làm mưu phản. Trần Minh Tông bắt Quốc Chẩn đem giam ở chùa Tư Phúc.
    Trần Khắc Chung xin vua trừ Trần Quốc Chẩn đi. Nhà vua nghe lời ấy, cấm Trần Quốc Chẩn không cho ăn uống gì, đến nỗi khát nước quá, Hoàng hậu phải lấy áo nhúng nước rồi mặc vào vắt ra cho uống.Uống xong thì chết. Sau người vợ lẽ tên Trần Phẫu ghen nhau với vợ cả, tố cáo chống lấy vàng vu cho Trần Quốc Chẩn. bấy giờ mới giải oan được cho một trung thần.
    Trần Minh Tông mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357), thọ 58 tuổi. Trần Minh Tông là một vị vua đã tiếp nối làm rạng rỡ cho cơ nghiêp nhà Trần giữ cho đất nước được bình yên và bên ngoài đều thu phục. Ông cũng la một người có đức độ và tài năng.

  3. #3
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Trần Hiến Tông (1319-1341)

    Trần Hiến Tông
    Thái tử Vượng sinh ngày 17 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1319), lên ngôi vua năm 10 tuổi, lấy hiệu là Hiến Tông. Ông là con thứ của vua Trần Minh Tông, mẹ là Từ Hoàng thái phi Lê Thị.



    Thượng Hoàng Minh Tông vừa nhường ngôi cho Trần Hiến Tông thì ở mạn Đà Giang ( miền Tây Bắc ) có mường Ngưu Hống nổi lên làm loạn lên thượng hoàng phải thân chinh đi đánh. Từ đầu thế kỷ 14 và ngay dưới triều Hiến Tông mâu thuẫn xã hội bắt đầu bộc lộ mà cuộc nổi dậy của dân tộc ít người phía Tây Bắc là một biểu hiện cụ thể. Người Ngưu Hống ở trại Chiêm Chiêu đưa thư đến giả vờ xin hàng. Khi đạo quân ở Thanh Hoà đến nơi thì bị người ở trại ấy đổ ra đánh thua chạy. Thượng hoàng đem đại binh tiến lên, quân Ngưu Hống bỏ chạy cả vào rừng núi. Giặc tuy thua nhưng quân triều đình không trừ hết được. Mãi đến năm Đinh Sửu (1337), tướng nhà Trần là Hưng Hiếu vương chém được tù trưởng Xa Phần của Ngưu Hống ở trại Trịnh Kỳ, thì giặc ấy mới yên. Trong khi cuộc nổi loạn của Ngưu Hống còn đang quấy nhiễu ở phía Tây Bắc thì giặc Ai Lao lại sang đánh phá. Năm Giáp Tuất (1334), Trần Minh Tông lại phải thân trinh đi đánh. Thượng hoàng sai Nguyễn Trung Ngạn vào Thanh Hoá, xung chức Phát vận sứ, để chuyển tải lương thực đi trước rồi Thượng hoàng đem đại quân vào sau. Khi quân đến Kiềm Châu, thuộc Nghệ An, quân Ai Lao nghe tiếng đều bỏ chạy cả. Thượng hoàng sai Nguyễn Trung Ngạn làm bài bia khắc ngay trên núi để ghi chiến công.
    Năm sau, quân Ai Lao lại sang cướp ở ấp Nam Nhung, thuộc đất Nghệ An, Thượng hoàng Minh Tông ngự giá đi đánh lần nữa. Thượng hoàng lên đường lần này thì Đỗ Thiên Hứ quản quân khoái hộ ( tức là quân thần sách) đang bị ốm nặng được ở lại. Thiên Hứ sai người nhà khiêng đến ngoài cửa Vĩnh An, cố xin theo xa giá, đã nói:”Thần thà chết ở ngoài cửa quân dinh, chứ không chịu chết ở chỗ giường đệm”. Thượng hoàng khen là trung, cho đi theo vào đến đất của giặc thì chết. Thượng hoàng rất thương tiếc sắc cho dùng nhạc Thái thường, loại nhạc chỉ dành cho từ chức Hành khiển trở lên để thờ cúng.
    Trần Minh Tông sai quan Kinh lược đại sứ tỉnh Nghệ An là Đoàn Nhữ Hài làm Đô đốc chư quân. Đoàn Nhữ Hài khinh quân Ai Lao, cho rằng quân ta đánh thế nào cũng được. Vì đồn trại của chúng đóng liền con sông lớn, nếu sau khi quan ta đánh thắng đem chiến lợi phẩm và tù binh đi theo đường sông rất thuận lợi. Khi Nhữ Hài đem quân đến ấp Nam Nhung qua sông Tiết La, chẳng may hôm đó sương mù, ông bị phục binh của Ai Lao đổ ra đánh nên quan quân nhà Trần bị ngã xuống sông chết đuối rất nhiều, trong đó có cả Đoàn Nhữ Hài.
    Nước Ai Lao sang quấy nhiễu Đại Việt từ các đời vua Nhân Tông và Anh Tông. Quan quân nhà Trần đã phải đi đánh nhiều lần, nhưng lần nào đánh xong cũng chỉ yên được vài năm rồi giặc lại sang cướp phá. Mục đích những lần xuất quân đi đánh Ai Lao cũng chỉ nhằm cho nó đừng sang ăn cướp ở đất mình, chứ nhà Trần chưa bao giờ chiếm giữ Ai Lao cả.
    Dưới triều hiến tông, biên giới phía Bắc và phía Nam tương đối ổn định. Trong vòng 10 năm nhà Nguyên có hai lần sứ giả sang Đại Việt vào các năm tân mùi (1331), Ất Hợi (1335), để thông báo vua mới lên ngôi và nhà Trần đã cho người sang chúc mừng.
    Vua Trần Hiến Tông không tổ chức được một khoa thi nào để chọn nhân tài. Năm Đinh Sửu (1337) chỉ xuống chiếu cho các quan trong triều cũng như ngoài các lộ, hàng năm xét những thuộc viên do mình quản lý, người nào siêng năng cẩn thận thì giữ lại, còn người nào không làm được thì truất bỏ.
    Nhiều tướng giỏi như Trần Nhật Duật, Trần Khắc Chung, Trần Khánh Dư, Đoàn Nhữ Hài lần lượt qua đời. Tá thánh Thái sư Trần Nhật Duật vừa được nhà vua phong chức Chiêu Văn Đại vương năm trước thì năm sau mất (1330). Ông là người độ lượng hoà nhã, dù mừng hay giận không bao giờ lộ ra nét mặt, lúc gặp khó thì tuỳ cơ ứng biến, giỏi về quân sự. Trần Nhật Duật còn là người giỏi về sử sách, ham thích đạo giáo, hiểu biết âm nhạc, được người đương thời khen là người có kiến thức rộng rãi lại hiểu biết tiếng của nhiều nước. Ông thích chơi với người nước ngoài, thường hay cưỡi voi đến thôn Bà Già có người Chiêm Thành ở, chơi ba bốn ngày mới về. Khi có người nước ngoài đến kinh thành, ông thường kéo đến nhà chơi. Đời Trần Nhân Tông sứ của nước Sách Mã Tích (?) sang cống, không có người phiên dịch duy chỉ có Nhật Duật là người dịch được. Mỗi khi giao tiếp nói chuyện với sứ thần nhà Nguyên, ông không cần người phiên dịch, thường tay cầm tay uống rượu với nhau vui vẻ như bạn vẫn quen biết.Cuối niên hiệu Thiệu Bảo (1284), Trần Nhật Duật chấn thủ ở Tuyên Quang, quân Nguyên-Mông đến xâm phạm, vì giặc quá mạnh ông cho quân rút xuôi theo dòng xông. Thấy quân đuổi theo hai bên bờ sông đi thong thả, đoán rằng phái trước có toán nữa, ông vội cho quân đi dò xét thì quả đúng như vậy. Nhật Duật bèn bỏ thuyền, dẫn quân lên bộ mới thoát nạn. Ông đã làm tướng dưới bốn triều vua, ba lần coi giữ trấn lớn, trong nhà không ngày nào là không mở chèo hát, bày trò vui mà không ai chê cười được. Trần Nhật Duật hưởng thọ 77 tuổi.
    Từ năm Quý Dậu (1333) đến năm Mậu Dần (1338) chỉ trong vòng 6 năm, đã có nhiều thiên tai lớn xảy ra như lụt lội, bão gió, động đất. Riêng năm Mậu Dần thì tháng tám vừa bị thuỷ tai đến tháng mười lại có gió bão lớn làm hư hỏng nhiều nhà cửa và mùa màng, vì vậy mất mùa và nạn đói đã xảy ra. Nguyễn Trung Ngạn làm An phủ sứ Nghệ An, kiêm Quốc sử viện giám tu quốc sử, Hành khoái Câu lộ Tào vận sứ, đề nghị xin lậpkho lương chứa thóc thuế để cấp cho dân đói. Nhà vua đã đồng ý và hạ lệnh cho các lộ khác cũng theo thế mà làm.
    Văn hoá thời Trần nhìn chung đã đạt đến một trình độ cao. Một số nghành khoa học như thiên văn, lịch pháp, y học cũng có những thành tích đáng kể. Dưới triều Trần Hiến Tông có Hậu nghi đài lang, Thái sử cục lệnh là Đặng Lộ người huyện Sơn Minh ( Ứng Hoà, Hà Tây ) đã chế ra một dụng cụ xét nghiệm khí tượng gọi là “lung linh nghi” , khi khảo nghiệm không việc gì là không đúng.
    Trần Hiến Tông, vị vua thứ sáu của thời Trần chỉ là vua lấy vì mà thôi, còn quyền hành thực tế ở cả trong tay Thượng hoàng Minh Tông. Cho nên tuy có làm vua 13 năm nhưng Trần Hiến Tông không được tự chủ việc gì cả. Ông mất tháng sáu năm Tân Tỵ(1341), thọ 23 tuổi.

  4. #4
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Trần Dụ Tông

    Trần Dụ Tông
    Hoàng tử Hạo (tức Trần Dụ Tông) sinh ra được sáu năm thì anh (tức vua Trần Hiến Tông) mất năm (1341). Tiếp đó ngày 21 tháng 8 năm Tân Tỵ (1341), Thượng hoàng Minh Tông đưa hoàng tử Hạo lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiệu Phong. Ông là con thứ 10 của vua Trần Minh Tông.



    Trong lịch sử các triều đại hoàng đế, có lẽ hiếm thấy những người gặp phải hoàn cảnh đặc biệt như vua Trần Dụ Tông.
    Hoàng tử Hạo (tức Trần Dụ Tông) sinh ra được sáu năm thì anh (tức vua Trần Hiến Tông) mất năm (1341). Tiếp đó ngày 21 tháng 8 năm Tân Tỵ (1341), Thượng hoàng Minh Tông đưa hoàng tử Hạo lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiệu Phong. Ông là con thứ 10 của vua Trần Minh Tông.
    Lúc mới lên 3 tuổi, đang đêm hoàng tử Hạo đi thuyền chơi ở Hồ Tây bị chết đuối. Mọi người đi tìm thấy xác hoàng tử ở trong lỗ cống đơm cá. Cũng may, được người thầy thuốc tên là Trâu Canh người phương Bắc, nguyên là con trai Trâu Tôn theo quân Nguyên xâm lấn Đại Việt và ở lại nước ta, dùng kim châm chữa khỏi. Cũng sau lần ấy, hoàng tử Hạo bị chứng bệnh liệt dương, không người nối dõi tông đường, dẫn đến chơi bời quá độ, khiến cơ nghiệp nhà Trần từ đấy suy vi.
    Trần Dụ Tông lên ngôi hoàng đế lúc 6 tuổi, còn rất trẻ, nên mọi việc triều chính đều do thượng hoàng Trần Minh Tông vừa là cha lại vừa là cố vấn định đoạt. Bù lại, Trần Dụ Tông rất thông tuệ, học vấn cao, văn võ toàn tài lên được mọi người trong và ngoài nước rất kính nể.
    Năm 13 tuổi, Trần Dụ Tông lấy công chúa Ý Từ là con gái thứ 4 của Bình chương Huệ Túc vương phong làm Nghi Thánh Hoàng hậu. Về võ, ông nối tiếp truyền thống vua cha thường xuyên cảnh giác với kẻ thù xảo quyệt và tàn bạo phương Bắc. Ông cho đóng thêm chiến thuyền, sản xuất khí giới và tăng cường luyện tập võ nghệ tinh thông, trọng dụng những hiền tài nhu Tả tham tri chính sự Trương Hán Siêu, Hành khiển Tri khu mật viện sự Nguyễn Trung Ngạn, Quốc phủ thượng tể Trần Quốc Chẩn, Hành khiển tả ty Lang trung Phạm Sư Mạnh, Hàn Lâm viện phụng chỉ Lê Quát.
    Để phòng giặc phương Bắc, Trần Dụ Tông đã cho đặt quan trấn, quan lộ và sát hải sứ ở Vân Đồn và ông đã cùng Thượng hoàng Minh Tông cầm quân tuần phòng ngoài biên ải.
    Khi về Tức Mạc, đất phát tích của dòng họ, Trần Dụ Tông phát thuốc cho những người ốm đau gọi là Hồng ngọc sương. Người nghèo trong vùng nghe tin đến xin, đều được mỗi người 2 viên thuốc quý, 2 tiền và 2 thăng gạo.
    Có thể nói rằng, Trần Dụ Tông là người đặt nền móng cho một số bộ môn nghệ thuật dân tộc rất độc đáo như: Hát các tích tuồng cổ và leo dây, múa rối…
    Sử cũ chép rằng: Vào năm Nhâm Dần (1362), mùa xuân, vua truyền cho các vương hầu, công chúa dâng trò, trò nào hay thì ban thưởng. Trong các trò có dụng các tích tuồng cổ như Tây Vương Mẫu hiến bàn đào, trang phục áo thêu hoa gấm, đánh trống thổi sáo, gẩy đàn làm say lòng người.
    Trong 28 năm Trần Dụ Tông ở ngôi vua, có nhiều sự kiện đáng nhớ, đồng thời cũng phần nào phản ánh cuộc đời đầy kịch tính của ông như:
    - 4 lần nhật thực
    - Động đất, đại hạn.
    - Hai mặt trời rộng vờn nhau.
    - Con hổ đen bỗng nhiên vào thành.
    - Sao chổi xuất hiện.
    - Người con gái ở trấn Nghệ An biến thành con trai.
    - Đúc tiền Đại Trị thông bảo.
    - Bắt các vương hầu, công chúa đều phải thích chữ vào trán.
    - v.v…và v.v…
    Tuy có nhiều đóng góp vào quá trình phục hưng dân tộc, nhưng về cuối đời, Trần Dụ Tông sa vào ăn chơi quá độ. Ông cho đào ở vườn ngự trong hậu cung để xếp đá làm núi, nuôi nhiều thú lạ, chở nước mặn vào nuôi đồi mồi, cá biển, thậm chí còn thuê người châu Hóa chở cá sấu đến thả vào hồ để thưởng ngoạn.
    Sự kiện năm 1364, vua uống rượu say quá rồi đi hóng gió, chơi trăng, lại lội xuống sông tắm, bị cảm nặng. Hai năm sau, vua đến chơi nhà một người tên là Trần Ngô Lang ở hương Mễ Sở, đến canh ba mới về, bị mất trộm cả ấn báu lẫn gươm báu, nên từ đó biết mình không sống lâu, Dụ Tông càng chơi bời hưởng lạc.
    Năm 1369, Trần Dụ Tông mất lúc 34 tuổi với tâm trạng u uất không có con nối dõi tông đường.
    Cuộc đời của Trần Dụ Tông phần nào phản ánh sự suy vi những năm cuối của vương triều Trần. Việc chọn Nhật Lễ nối ngôi lúc vua Dụ Tông sắp mất mà không chọn những người anh em có tài, có đức để kế tục sự nghiệp đã nói lên điều đó.
    “Nếu biết nghĩ xã tắc làm trọng thì chọn người nào có tài có đức lập làm Thái tử, để yên lòng mong của thiên hạ, thế thì gốc của nước được vững bền.”
    Đó là lời bàn của sử thần Ngô Sĩ Liên, đồng thời cũng là bài học sáng giá không chỉ ở thời Trần mà cho mãi mãi sau này.

  5. #5
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Trần Nghệ Tông (1325 – 1399)


    Trần Nghệ Tông
    Năm Kỷ Dậu niên hiệu Đại Trị thứ 12 (1369), khi vua Trần Dụ Tông sắp mất, vì không có con nối dõi nên đã xuống chiếu đón Nhật Lễ, con của người phường chèo tên là Dương Khương lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đại Định, năm thứ nhất




    Từ khi tiếm ngôi, Nhật Lễ càng ngày càng rượu chè, hoang dâm vô độ, suốt ngày chỉ mải mê vui chơi không quan tâm đến chính sự. Không chỉ có thế, Nhật Lễ còn giết cả người đã đón mình về để lên ngôi Hoàng đế là Hoàng Thái hậu Hiển Từ, vợ vua Trần Minh Tông, mẹ của Trần Nghệ Tông.
    Vốn trước đây, Thái tử Phủ là con thứ ba của vua Trần Minh Tông, không có ý định làm vua để lấy lại đất nước. Vì Nhật Lễ ngày càng làm những điều bạo ngược, nên khi nghe công chúa Thiên Ninh nói:” Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông mình, sao lại bỏ cho người khác”. Thái tử Phủ đã quyết chí ra đi chiêu tập lực lượng, mưu dành lại cơ nghiệp nhà Trần.
    Tâm tư của Thái tử được thể hiện trong bài thư gửi cho em là Cung Tuyên vương Kính (sau này là vua Trần Dụê Tông) trước lúc ra đi:
    “Vì cực sàm thâm tiện khứ quan
    Chính thân độ lĩnh nhập sơn man.
    Thất lăng hồi thử thiên hàng lệ,
    Vạn lý môn tâm lưỡng mấn ban.
    Khứ Vũ tồn đồ Đường xã tắc,
    An Lưu phục đổ Hán y quan.
    Minh Tông sự nghiệp quân tu ký,
    Khôi phục thần kinh chỉ nhật hoàn”.
    Dịch là:
    Ngôi cả gièm nhiều ở lại chi?
    Một mình vượt núi đến man di.
    Bảy lăng(1) ngoảnh lại châu tuôn ứa,
    Muôn dặm lòng đau tóc bạc đi.
    Trừ Vũ(2) cho yên Đường xã tắc,
    An Lưu lại thấy Hán uy nghi.
    Minh Tông sự nghiệp ngươi lên nhớ,
    Thu phục thần kinh nhất định về.
    Người thời bấy giờ cho bài thơ ấy là một lời sầm truyền.
    Lý do thứ hai khiến thái tử Phủ ra đi là ông có người con gái làm hoàng hậu của Nhật Lễ, nên sợ bị vạ lây đến mình.
    Tháng 11 năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370), Thái tử Phủ cùng Cung Tuyên vương Kính và công chúa Thiên Ninh kéo quân về Kinh Sư, đến phủ Kiến Hưng (tên cũ là Hiển Khánh)(3) hạ lệnh phế Nhật Lễ làm Hôn Đức công. Ngày 15, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu, đại xá cho thiên hạ.
    Sau sự kiện Nhật Lễ bóp cổ Ngô Lang, vua Nghệ Tông sai đánh chết Nhật Lễ và con của y là Liễu rồi đem chôn xác ở núi Đại Mông.
    Mặc dù chỉ ở ngôi Hoàng đế trong thời gian ngắn ngủi có 3 năm (1370 – 1372) nhưng Trần Nghệ Tông đã xứng đáng với truyền thống độc lập tự chủ vốn có của các tiên đế nhà Trần. Khi mới lên ngôi, vua Trần Nghệ Tông đã nói:
    “ Triều trước dụng nước tự có pháp độ, không theo chế độ nhà Tống là vì Nam, Bắc đều chủ nước mình, không phải noi nhau…” . Câu nói đó đã được sử quan ghi vào quốc sử.
    Trần Nghệ Tông đã tiến hành khôi phục lại các phép tắc, phong tục của thời Trần Minh Tông (1324) và cương quyết hủy bỏ những điều nhiễu nhương sinh ra dưới thời Trần Dụ Tông (1341 – 1369) do các nho sỹ nhập nội thiển cận bắt trước theo văn hóa Trung Quốc. Ông đã xuống chiếu bãi bỏ lệnh “Sa Châu liệt cước” do Chiêu Từ Thái hậu đặt ra nhằm mục đích chiếm lấy những bãi phù sa mới bồi tụ ven sông. Liền sau đó, ông còn bãi bỏ lệnh “kiểm điểm tài sản” của các nha quyền quý mà nội dung là sau khi họ chết thì tài sản và những bảo vật quý báu đều thuộc về sở hữu nhà nước ( thuộc thời Trần Dụ Tông ). Thực ra, những của cải thu được đều rơi vào túi những kẻ bề tôi tham nhũng vơ vét, khơi mối.
    Ông còn xuống chiếu cho các hoàng thân, quốc thích, khi xây dựng cung thất cần phải làm đơn giản, mộc mạc, chỉ lấy các tản quan tôn thất phục dịch, không được gây phiền nhiễu nhân dân.
    Trần Nghệ Tông thực sự là đấng minh quân khi ông xét khảo rất công minh những công trạng của các quan văn, võ trong triều. Khi lập em là Cung Tuyên Kính ( tức vua Trần Duệ Tông sau này), Trần Nghệ Tông đã làm tập “ Hoàng Huấn” gồm 14 chương ban cho để giúp em trưởng thành, nắm quyền trị vì đất nước.
    Vua Trần Nghệ Tông không những biết sử dụng nhân tài mà còn đánh giá đúng nhân tài khi ông ban lệnh thờ Tư nghịêp Quốc tử giám Chu Văn An, Thiếu phó Trương Hán Siêu… mặc dù bấy giờ có nhiều người không đồng tình với việc làm này.
    Chu Văn An là người cương trực, trong sạch, biết giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, hiển đạt, học vấn tinh thuần vốn nổi tiếng ở đời. Chu Văn An còn để lại cho hậu thế sớ “thất trảm” xin chém bảy kẻ nịnh thần đều là người có quyền thế được vua Dụ Tông yêu. Trần Dụ Tông thích chơi bời, bỏ bễ việc triều chính, bọn quyền thần lộng hành. Chu Văn An đã nhiều lần can nhưng nhà vua không nghe. Khi dâng sớ “thất trảm” vua lại không trả lời, nên ông bèn treo mũ áo bỏ về. Đúng là một con người cao thượng tiết tháo, đáng bậc tôn sư của nhà nho nước Việt.
    Trương Hán Siêu từ khi là môn khách của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cũng trưởng thành cả về tài năng lẫn đức độ. Trải qua 4 triều vua: Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông, Trương Hán Siêu đã tỏ rõ tài năng trị quốc, an dân. Ông còn để lại bài “Phú sông Bạch Đằng” là một áng thiên cổ hùng văn trong lịch sử văn học yêu nước Việt Nam, đã khắc sâu vào tâm khảm mọi người một áng văn chứa chan niềm tự hào dân tộc, có ý nghĩa tổng kết lại chiến thắng Bạch Đằng, chiến thắng cuối cùng có giá trị quyết định đập tan ý chí xâm lược của kẻ thù tàn bạo nhất thời bấy gìơ.
    “Giặc tan muôn thủa thăng bình,
    Tại đâu đất hiểm, bởi mình đức cao”.
    Trần Nghệ Tông đã trân trọng đánh giá đúng tài năng, đức độ của Chu Văn An, Trương Hán Siêu… qua việc quyết định đưa những nhân tài đất Việt này vào thờ ở Văn Miếu.
    Trần Nghệ Tông ở ngôi hoàng đế 3 năm, nhường ngôi 27 năm, thọ 74 tuổi.
    Sách Đai Việt sử ký toàn thư chép về ông nhu sau: “Vua dẹp yên loạn trong nước, khôi phục lại nghiệp lớn lao, rực rỡ vũ trụ”, xứng đáng với truyền thống nhà Trần.

    (1) Bảy lăng: Tức lăng mộ của Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông.
    (2) Trừ Vũ: Tức Vũ Tắc Thiên cướp ngôi Đường Trung Tông lập lên nhà Chu. Về sau Trương Giản Chi diệt phe cánh Vũ Tắc Thiên khôi phục cơ nghiệp nhà Đường.
    (3) Phủ Kiến Hưng: Đời Lê đổi tên làm phủ Nghĩa Hưng, nay là đất thuộc các huyện: Vụ Bản, Nghĩa Hưng và Ý Yên tỉnh Nam Định.

  6. #6
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Trần Duệ Tông (1336-1377)


    Trần Duệ Tông

    Duệ Tông Hoàng đế - ông vua thứ 9 của thời đại nhà Trần, tên là Trần Kính, là con thứ mười một của Trần Minh Tông, em của vua Trần Nghệ Tông. Mẹ là Đôn Từ Hoàng Thái phi.




    Vua sinh ngày 2-6-1336. Khi Trần Nghệ Tông tránh loạn, mọi vũ khí, quân đội đều do Trần Kính đảm nhận, do vậy, vua Nghệ Tông đã truyền ngôi cho em. Ba mươi sáu tuổi lên làm vua, ở ngôi 4 năm, thọ 41 tuổi.
    Trong 4 năm cầm quyền, trị vì đất nước, Trần Dụê Tông đã cùng vua cha Trần Minh Tông(1) (Thái Thượng Hoàng) tổ chức thi Đình tuyển chọn nhân tài cho quốc gia. Những nho sĩ thời đó như Đào Sư Tích ( Trạng nguyên), Lê Hiến Phủ (Bảng nhãn), Trần Đình Thám (Thám hoa)…đều xuất thân từ bình dân, không trong hàng ngũ hoàng tộc. Đức vua rất coi trọng nho sỹ, coi đó là đại diện văn hiến nước nhà, nên cho ăn yến, áo xấp, tước phẩm…
    Đặc biệt nhà vua rất chú trọng trong việc xây dựng quân đội. Sử cũ chép lại rằng: “Mùa thu tháng tám (1374) cho dân đinh xung vào quân ngũ: hạng nhất xung vào Lan Đô, rồi đến hạng nhì, hạng ba. Người thấp bé nhưng mạnh khỏe cũng được xung lên hạng trên. Trước đây, quân Túc vệ có quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Sau đặt thêm các quân Uy Tiệp, Bảo Tiệp, Long Dực, Thần Dực, Ý Yên, Thiên Trường, Bắc Giang, Điện Hậu, Long Tiệp, thích ba chữ đen vào trán. Các quân Thị vệ, Tạc Ngạch, Hoa Ngạch, Tả Ban, Hữu Ban, Thanh Hóa Nghệ An, Hóa Châu, Thuận Châu, Lâm Bình đều đặt quân hiệu. Có đại đội trưởng, đại đội phó làm tướng hiệu”(1)
    Tháng 12 năm 1376, vua tự cầm quân đi đánh giặc ở vào thời điểm quyết liệt, do có người cản ngăn nên vua nói với quân sĩ rằng: “ Ta mình mặc giáp, tay cầm gươm, dãi gió dầm mưa, lội sông, trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không một người nào dám chống lại đó là trời giúp. Huống chi nay vua giặc nghe tiếng bỏ trốn, không có lòng đánh lại. Cổ nhân nói “Dụng binh quý ở nhanh chóng”. Nay lại dùng dằng không tiến nhanh, thế là trời cho mà không lấy, để nó lại có mưu khác, thì hối không kịp?”. Là ông vua, nhưng lại cùng quân sỹ xông pha nơi trận mạc, chỉ vì chủ quan, khinh địch, không nghe lời can gián, phân tích lợi hại của quần thần, cho nên Duệ Tông bị hãm trong trận và bị Chiêm Thành giết chết, các tướng lĩnh Đồ Lễ, Nguyễn Lạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh cũng đều bị giết hại.
    Cũng trong thời kỳ làm vua, Trần Duệ Tông đã tiếp tục đường lối của cha ông mình là liên tục tuyển chọn nhân tài cho quốc gia. Sử cũ có chép lại rằng: “Ất Mão (năm 1375)…xuống chiếu chọn các quan viên, người nào có tài năng, luyện tập nghề võ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là tôn thất đều làm tướng coi quân “, đồng thời cho ra khỏi quân ngũ những người lính già cả , ốm yếu, bệnh tật…
    Đặc biệt là ý thức dân tộc ở Trần Duệ Tông được đề cao. Ông hạ lệnh cho quân dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm – Lào. Vừa bảo vệ được thuần phong mỹ tục, vừa biểu hiện ý thức tự lập, tự cường, ông còn quy định cụ thể về mẫu mã các loại thuyền, xe, kiệu, tán, nghi, trượng và y phục.
    Thời gian trị vì đất nước rất ngắn ngủi, nhưng vua Duệ Tông đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc về lòng quả cảm, về ý thức tự lập tự cường. Cũng thời gian đó, lịch sử còn ghi lại nhiều tư liệu về các hành động của quan quân, về đức tính trong sạch thanh liêm của quan lại thời ấy. Chẳng hạn như: Đỗ Tử Bình lãnh hậu quân không đến cứu được vua (đi đánh Chiêm Thành) thoát chết, khi trở về qua Thiên Trường, người ta tranh nhau lấy ngói, gạch ném vào thuyền mà chửi! Hoặc Trương Đỗ là một vị quan thanh liêm, mà tài cao đức trọng, khi vua đi đánh Chiêm Thành, ông đã ba lần dâng sớ can ngăn, vua không nghe, ông bèn treo mũ từ quan bỏ về…
    Thượng hoàng Trần Minh Tông cho là vua Dụê Tông vì việc nước mà bỏ mình, nên chiêu hồn chôn ở Hy Lăng và cho lập con trưởng của Duệ Tông là Kiến Đức Đại vương Trần Hiện nối nghiệp nhà Trần.

    (1) Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Sđđ… trang 183

  7. #7
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Trần Phế Đế (1361 – 1388)


    Trần Phế Đế hoàng đế
    Sau khi Trần Duệ Tông đi đánh Chiêm Thành và mất tại chiến trận, Thượng hoàng đã chon con trưởng của Duệ Tông là Trần Hiện laen ngôi Hoàng đế, tước hiệu là Phế Đế.




    Vua là con Gia Huệ Hoàng hậu Lê Thị, sinh ngày 6-3-1361, lên ngôi năm 16 tuổi, làm vua 12 năm, thọ 28 tuổi
    Là vị vua thứ 10 của triều đại nhà Trần, Trần Phế Đế trị vì đất nước Đại Việt trong 12 năm. Đó cũng là thời điểm lịch sử Đại Việt gặp nhiều biến động, nhà Trần đang đi vào con đường suy vi.
    Cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành liên tục xảy ra. Các bộ sử cũ của ta ghi lại nhiều sự kiện này. Người Chiêm Thành từ năm 1377, 1378, 1383 liên tục xâm lấn và quấy rối Đại Việt. Trần Phế đế ngoài việc tổ chức phòng bị đất nước còn cho sơ tán của cải về các nơi hiểm yếu như: Đem tiền đồng về chôn giấu ở núi Thiên Kiện (Kim Bảng – Hà Nam ngày nay), hoặc đưa tượng các tiên đế nhà Trần từ Long Hưng (Thái Bình) về Yên Sinh (Chí Linh, Hải Dương) để tránh giặc Chiêm Thành.
    Đồng thời ở phía Bắc Giang, Nguyễn Bổ nổi loạn, viện quân tới tấp, mà kho tàng trống rỗng. Do vậy, nghe theo lời Đỗ Tử Bình, vua bắt “đinh nam” không phân biệt có ruộng hay không, phải nộp 3 quan tiền một năm, rồi ra lệnh cho các quân sỹ rèn đúc vũ khí, đóng chiến thuyền…
    Tháng 11 – 1382, xuống chiếu cho quân dân Nghệ An và Diễn Châu đào các kênh ở Hải Tây…
    Đây cũng là thời điểm Hồ Quý Ly bắt đầu đưa vây cánh vào trong triều chính. Vương triều Trần thời điểm này các chức vụ quan trọng không hoàn toàn còn là của các tướng lĩnh người hoàng tộc nữa, nên đã xuất hiện nhiều nhân vật từ trong trăm họ mà trưởng thành như: Hồ Quý Ly, Nguyễn Đa Phương, Phạm Cự Luận, Đào Sư Tích, Đào Toàn Mân…
    Trước tình hình đó, tháng 12 – 1283, sau khi người Chiêm Thành rút quân về, Thượng hoàng Nghệ Tông đã cho Nguyễn Mậu Tiên, Phan Nghĩa hàng ngày ghi chép lại những sự kiện cũ của nhà Trần, biên chế thàn 8 quyển, đề là “Bảo hòa dư bút”, sai Đào Sư Tích đề tựa để răn dạy quan gia (vua Phế Đế). Đồng thời tổ chức thi Thái học sinh (Tiến sỹ) ở chùa Vạn Phúc (núi Tiên Du - Bắc Ninh), chọn được 30 Tiến sỹ, trong đó có Đoàn Xuân Lôi, Hoành Hối Khanh, bổ nhiệm vào các chức vụ trong hàng ngũ từ triều đình xuống huyện, phủ…
    Năm 1384, người Minh bắt đầu đánh Vân Nam và có ý đồ thôn tính Đại Việt. Trong nước lúc này lúng túng, ngoại thích tham gia triều chính và lộng quyền, nhiều tướng lĩnh quý tộc Trần bắt đầu tìm đường ở ẩn như Chương túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán nghỉ quan về Côn Sơn…
    Vua Trần Phế Đế lúc này đã thấy rõ bối cảnh triều chính, Thượng hoàng Nghệ Tông thì yêu quý người họ ngoại là Hồ Quý Ly, cho tự ý làm gì thì làm, nên vua bàn mưu với Thái úy (Ngạc) muốn hại Hồ Quý Ly … Nhưng âm mưu đó bị bại lộ, Hồ Quý Ly mật tâu với Thượng hoàng.
    Thế là ngày 6-12-1388, buổi sáng sớm, Thượng hoàng Nghệ Tông giả cách đi ra Yên sinh, sai quần thần theo hầu và cử Chi hậu nội nhân gọi vua đến bàn việc nước. Vua chưa kịp ăn sáng, đi ngay, chỉ mang theo hai người hầu. Khi đến nơi, Thượng hoàng nói:”Đại Vương lại đây” rồi sai người đem vua ra giam ở chùa Tư Phúc và xuống chiếu cho toàn dân biết rằng: “Trước kia Duệ Tông (là em vua Nghệ Tông) đi tuần phương nam không trở về, dùng con đích để nối ngôi là theo đạo thời xưa. Song, quan gia (tức vua Phế Đế) từ khi lên ngôi đến giờ vẫn còn trẻ con lắm; giữ đức không thường, thân mật với bọn tiểu nhân, nghe bọn Lê Á Phu, Lê Dữ Nghị gièm pha vu hãm người công thần làm dao động xã tắc, nên giáng xuống là Linh Đức Đại vương. Song nhà nước không thể không có người đứng chủ, ngôi báu không thể bỏ không, nên đón Chiêu Định vương vào nối đại thống”.
    Một số tướng lĩnh thân cận của vua muốn đem quân vào ứng cứu, nhưng vua viết hai chữ “giải giáp” nghĩa là phải tuân theo lệnh Thượng hoàng, giả tán quan quân. Được một lát, đem vua xuống phủ Thái Dương thắt cổ giết chết.
    Một số tướng lĩnh khác âm mưu chống lại Hồ Quý Ly đều bị giết hại như : Á Phu, Khoái, Vân Nhi, Kha, Bát Sách…
    Trần Phế Đế, vua thứ 10 của dòng họ Trần đã không tiếp tục được truyền thống của ông cha mình. Tuy nhà vua có thi hành một số kế sách nhưng không đem lại lợi ích gì cho Đại Việt, và đây cũng chính là bi kịch của dòng họ Trần. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông (bác ruột Phế Đế) buộc phải bắt và giết vua để lập vua mới, giữ an cho xã tắc cuối thế kỷ XIV và đó cũng là thời điểm nhà Trần chuẩn bị rời khỏi vũ đài chính trị, nhường chỗ cho một lưc lượng, một thế lực phong kiến khác nắm quyền quản lý nhà nước Đại Việt.

  8. #8
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Trần Thuận Tông (1377-1399)

    Trần Thuận Tông Trần Ngung con út của Thượng hoàng Nghệ Tông lên làm vua đặt niên hiệu là Thuận Tông lúc mới 11 tuổi


    Ông sinh năm 1377, thọ 22 tuổi nhưng làm vua 10 năm, xuất gia 1 năm rồi bị Hồ Quý Ly bức hại. Đây là thời điểm lịch sử đầy biến động trong cung đình nhà Trần và các thế lực ngoại bang: Chiêm Thành (phía Nam), nhà Minh (phía Bắc) luôn luôn quấy rối, xâm lấn. Nhà vua phải cử Hồ Quý Ly vào kháng cự với người Chiêm ở Thanh Hóa, hoặc sư tăng Phạm Sư Ôn chống lại triều đình ở vùng Quốc Oai thượng, lăm le đánh chiếm Kinh Sư, nhà vua cùng Thượng hoàng và tướng Hoàng Phụng Thế đi đánh dẹp…
    Năm 1390, Trần Khát Chân đại thắng quân Chiêm Thành ở Hải Triều, giết được vua Chế Bồng Nga. Cùng năm ấy vua ngự đến Long Hưng, Kiến Xương, Yên Sinh làm lễ bái yết Chiêu Lăng.
    Ngày 14 tháng 11 năm 1390, Chương túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán từ trần. Trần Nguyên Đán (cháu nội Trần Quang Khải) là người nhân từ, phúc hậu và nho nhã. Có lần Thượng hoàng hỏi về mọi việc, ông nói:”Xin bệ hạ kính nước mình như cha, yêu Chiêm Thành như con, thì nhà nước được vô sự…”.
    Hồ Quý Ly tự là Lý Nguyên. Đời thứ 12 Hồ Quý Liêm dời đến hương Đại Lại (Phủ Thanh Hóa) làm con nuôi của Tuyên úy Lê Huấn từ đấy đổi làm họ Lê. Hồ Quý Ly là cháu 4 đời của Hồ Liêm. Đời Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly từ chức Chi hậu tứ cục Chánh chưởng dần dần thăng lên Phụ chính Thái sư nhiếp chính. Chính vì vậy, Hồ Quý Ly đã từng bước tham gia triều Trần và thực sự là người có tài, được Thượng hoàng Nghệ Tông rất tin dùng. Vua Thuận Tông còn nhỏ. Thượng hoàng thì già cả nhưng đây cũng là giai đoạn nhà Trần cố gắng thực hiện những truyền thống của tiên liệt như tổ chức thi Thái học sinh tuyển chọn nhân tài cho xã tắc. Năm 1396, vua Thuận Tông xuống chiếu định cách thi cử, dùng thể văn bốn kỳ, bãi bỏ phép viết ám tả cổ văn. Kỳ đệ nhất thi một bài kinh nghĩa, có các đoạn phá đề, đại giảng, kết luận từ 500 chữ trở lên. Kỳ thi thứ ba thi một bài chiếu dùng thể Hán, một bài chế, một bài biểu dùng thể tứ lục đời Đường. Kỳ thi thứ tư thi một bài văn sách, lấy kinh sử hay ra đề từ 1.000 chữ trở lên. Cứ năm trước thi hương, thì năm sau thi hội, ai đỗ thì vua cho thi một bài văn sách để định cao thấp.
    Cũng cùng năm ấy, vua hạ lệnh bắt đầu phát hành tiền giấy Thông Bảo hội sao, ai làm giả phải tội chết, tịch thu điền sản vào nước, cấm hẳn tiền đồng, không được chứa và tiêu riêng. Đồng thời, quy định lại các thể thức mũ áo các quan văn võ. Nhất phẩm thì sắc tía, nhị phẩm thì sắc đại hồng, tam phẩm sắc đỏ hoa đào, tứ phẩm sắc lục…
    Vua còn nhỏ tuổi, việc nước lại hệ trọng, nên Thượng Hoàng Nghệ Tông đã gọi Hồ Quý Ly lại và giao công việc trong nước cho họ Hồ. Rõ ràng vị vua Thuận Tông lúc này quả là còn non yếu không đủ sức gánh vác nổi giang sơn xã tắc, cũng vì vậy mà tháng 11 năm 1397, Hồ Quý Ly bức vua dời đô đến phủ Thanh Hóa. Hồ Quý Ly ép vua nhường ngôi cho Hoàng Thái tử Án và khuyên vua nên tu hành, gia nhập đạo tiên.

    (Nguồn Mười bốn vị hoàng đế thời Trần)

  9. #9
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Trần Thiếu Đế hoàng đế (1398-1400)



    Tên là An, là con trưởng của Thuận Tông, ở ngôi 2 năm, Quý Ly cướp ngôi, phế làm Bảo Ninh Đại Vương. Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang, đời Hậu Hán thời Ngũ Quý sang làm Thái thú Diễn Châu.




    Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột châu này, rồi là trại chủ. Đến đời Lý, có người lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan, đến đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại, Thanh Hóa, làm con nuôi tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu bốn đời của Huấn. Đời Trần Nghệ Tông, từ chức Chi hậu tứ cục chánh chưởng thăng lên Khu mật đại sứ, lên Tiểu tư không, tiến phong Đồng bình chương sự, liên tiếp gia phong tới Phụ chính thái sư nhiếp chính, Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương, Quốc Tổ Chương Hoàng, rồi thay ngôi nhà Trần, đặt quốc hiệu là Đại Ngu, trở lại họ Hồ, chưa đầy một năm thì truyền ngôi cho con là Hán Thương. Hán Thương tên cũ là Hỏa, tiếm ngôi được hơn 6 năm. Sau hai cha con đều bị người Minh bắt. Sử sũ đem hai người họ Hồ chép từng năm thành kỷ, nay truất bỏ và sửa cho đúng.
    Kỷ Mão, Kiến Tân năm thứ 2 [1399], (Minh Thái Tổ Kiến Văn năm thứ 1). Mùa hạ, tháng 4, Quý Ly cương bức vua phải xuất gia thờ Đạo giáo, ra ở quán Ngọc Thanh thôn Đạm Thủy, mật sai nội tẩm học sinh Nguyễn Cẩn đi theo để trông coi. Vua hỏi rằng:
    "Người theo hầu ta muốn làm gì chăng?".
    Cẩn không nỡ trả lời. Quý Ly làm bài thơ bảo Cẩn rằng:
    "Nguyên Quân không chết, thì ngươi phải chết!".
    Lại làm bài thơ đưa cho Nguyên Quân rằng:
    Tiền hữu dung ám quân, Hôn Đức cập Linh Đức. Hà bất tảo an bài, Đồ sử lao nhân lực. (Trước đó vua hèn ngu, Hôn Đức và Linh Đức. Sao không sớm liệu đi, Để cho người nhọc sức?). Cẩm bèn dâng thuốc độc. Vua không chết, lại dâng nước dừa và không cho ăn mà vẫn không chết. Đến đây, sai Xa kỵ vệ thượng tướng quân Phạm Khả Vĩnh thắt cổ chết. Chôn ở lăng Yên Sinh, miếu hiệu là Thuận Tông.
    Bọn Thái bảo Trần Hãng, Thượng tướng quân Trần Khát Chân mưu giết Quý Ly không thành, bị giết.
    Hôm ấy, Quý Ly họp thề ở Đốn Sơn. Bọn Khát Chân đã có ý giết Quý Ly. Quý Ly ngồi trên lầu nhà Khát Chân để xem, y như lệ thiên tử ngự đến miếu đến chùa. Cháu Khả Vĩnh là Phạm Tổ Thu và thích khách là Phạm Ngưu Tất cầm gươm định lên, Khát Chân trừng mắt ngăn lại, nên việc không xong.
    Quý Ly chột dạ đứng dậy, vệ sĩ hộ vệ xuống lầu.
    Ngưu Tất vứt gươm xuống đất nói: "Chết uổng cả lũ thôi".
    Sự việc bị phát giác, bọn tôn thất Hãng, Trụ quốc Nhật Đôn, tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, Lương Nguyên Bửu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngưu Tất và các liêu thuộc, thân thích gồm hơn 370 người đều bị giết cả, tịch thu gia sản, con gái bắt làm nô tỳ, con trai từ 1 tuổi trở lên bị chôn sống, hoặc bị dìm nước. Lùng bắt dư đảng liền mấy năm không ngớt. Người quen biết nhau chỉ đưa mắt ra hiệu, không dám nói chuyện với nhau. Nhà dân không được chứa người đi đường ngủ trọ, hễ có người ngủ trọ, thì phải báo nhà láng giềng, cùng nhau xét hỏi giấy tờ, hành lý, lý do đi qua để làm chứng cứ bảo lĩnh. Các xã đều đặt điểm tuần, ngày đêm tuần tra canh giữ. Lễ minh thệ từ đó không cử hành nữa.
    Khát Chân người Hà Lãng, huyện Vĩnh Linh, ba đời làm thượng tướng quân. Người đời truyền Khát Chân khi sắp bị hành hình, lên núi Đốn Sơn gào thét 3 tiếng, chết qua 3 ngày sắc mặt vẫn như khi sống, ruồi nhặng không dám bâu. Sau có hạn hán, cầu mưa thì ứng nghiệm ngay.

    (còn nữa)

  10. #10
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Văn hoá - Con người (Triều đại nhà Trần)

    Nguyên Bưu người Tuyên Quang, tiên tổ là Thế Sung làm Toát Thông Vương kiêm phụ đạo ở triều Lý. Các con là Văn, Hiến, Quế đều được phong hầu. Con của Quế là Hiếu Bão vì có công đánh Toa Đô được phong Quan phục hầu; Hiếu Bão sinh ra Thế Tắc được phong Lặc Thuận hầu; Thế Tắc sinh ra Cúc Tôn làm Quan sát sứ; Cúc Tôn sinh ra Nguyên Bưu.
    Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Quý Ly đến đây tội ác đã chất đầy rồi. Trần Hãng đã đi lại, hẹn ước với các tướng văn tướng võ từ trước, nếu biết thừa cơ quyết đoán, vạch tội giết vua của Quý Ly, hiệp sức với Khả Vĩnh mà giết nó đi, thì danh chính ngôn thuận, mà việc cũng xong rồi. Đánh tiếc lại do dự, sợ sệt, đến nửi chuốc lấ y bại vong.
    Tháng 6, Quý Ly tự xưng là Quốc Tổ Chương Hoàng, mặc áo màu bồ hoàng, ở cung Nhân Thọ, ra vào theo lệ thái tử, dùng 12 chiếc lọng vàng. Con là Hán Thương xưng là Nhiếp thái phó, ở bên hữu điện Hoàng Nguyên. Nguyên Trừng làm tư đồ. Bảng văn thì đề là Phụng Nhiếp Chính Quốc Tổ Chương Hoàng, chỉ xưng là "dư" mà chưa dám xưng "trẫm".
    Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Công tử Ngữ nước Sở trước khi cướp ngôi, đặt phục chế, bày quân hầu, kết cỏ bồ như cung vua, ngang nhiên ngạo mạn, lộ vẻ hung hăng để làm nhụt chí mọi người. Thấy không ai dám chống lại, bấy giờ mới không còn kiêng sợ gì nữa mà trổ hết ngón ác. Việc làm của họ Hồ cũng cùng một duộc!.
    Mùa thu, tháng 7, Nguyễn Dụng Phủ, người Cổ Đằng phủ Thanh Hóa dâng thư đại ý nói rằng:
    Chương Hoàng là hiệu gì? Bồ hoàng là sắc gì? Đối với việc phó thách cuả tiên đế thì thế nào?
    Quý Ly bắt giam mấy ngày rồi tha.
    Tháng 8, tên cướp Nguyễn Nhữ Cái trốn vào núi Thiết Sơn làm giả tiền giấy tiêu dùng. Gặp lúc Thuận Tông bị giết, Khát Chân bị chém, mới chiêu dụ dân lành được hơn vạn người, hoạt động ở các xứ Lập Thạch, sông Đáy, Lịch Sơn, sông Đà, Tản Viên, cướp bóc bừa bãi, các châu huyện không sao chống được.
    Tháng 9, dời các tội nhân giam ở Cảo Điền vào xã Tương Một,Thanh Hóa.
    Sai Trần Ninh dốc suất người phủ Thanh Hóa trồng tre gai ở phía tây thành, phía nam từ Đốn Sơn, phía bắc từ An Tôn đến tận cửa Bào Đàm, phía tây từ chợ Khả Lãng ở Vực Sơn đến sông Lửi Giang, vây quanh làm toà thành lớn bọc phía ngoài. Dân chúng ai lấy trộm măng thì bị xử tử.
    Dọc rừng rậm và đồng hoang dựng các quán xá, từ cầu Đại Tân đến bến Đàm Xá để tiện cho quân dân qua lại nghỉ ngơi.
    Đặt sở tuần kiểm ở sông Đại Lại. Sai chăng dây chão to ở giữa sông phàm các thuyền trên sông phải kéo dây theo thứ tự mà đi, không được tranh nhau đi trước.
    Mùa đông, tháng 10, đổi người có tội đi đày làm lính khơi mương, sai đi khơi các con kênh Vi, kênh Trầm, kênh Hào, đến tận cửa biển Hà Hoa để tiện thuyền bè qua lại.
    Tháng 12, sai Nguyễn Bằng Cử, An phủ sứ Đông Lộ đi đánh Nguyễn Nhữ Cái, dẹp yên được.
    (Bằng Cử người huyện Đông Ngàn, Bắc Giang).
    Canh Thìn, Kiến Tân năm thứ 3 [1400], (Năm này nhà Trần mất, từ tháng 3 trở đi, Quý Ly cướp ngôi, xưng là Thánh Nguyên năm thứ 1; Minh Kiến Văn năm thứ 2). Mùa xuân, tháng giêng, Lê Quý Ly lập con là Hán Thương làm thái tử.
    Trước đây, Quý Ly định lập Hán Thương nhưng chưa quyết, mới mượn cái nghiên đá mà nói rằng:
    "Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân" (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân), bảo con trưởng là Trừng đối lại để xem chí hướng ra sao.
    Trừng đối lại rằng: "Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc" (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường cột để chống nâng xã tắc). Bấy giờ ý mới quyết định.
    Tháng 2, ngày 28, Quý Ly bức vua nhường ngôi và buộc người tôn thất và các quan ba lần dâng biểu khuyên lên ngôi. Quý Ly giả vờ cố tình từ chối nói: "Ta sắp xuống lử đến nơi rồi, còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở dưới đất nữa?".
    Rồi tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu, đổi thành họ Hồ.
    Phan Phu Tiên nói: Khổng Tử nói: "Không phải ma nhà mình mà cúng là siểm nịnh". Vì thế Địch Thanh từ chối không nhận là dòng dõi Lương Huệ Công; Lưu Việp tạ từ không nhận là họ hàng Lưu thái hậu. Nhà Đường tế Đế Nghiêu làm tiên tổ mà tiên nho chê cười: Chiêu Liệt là con cháu Trung Sơn Tĩnh Vương mà Ôn Công không thừa nhận. Đâu phải có riêng tư gì trong việc khen chê!.
    Là vì họ hàng xa xôi, các đời biến đổi, khó mà tin chắc được. Quý Ly lại nhận là dòng dõi xa của Hồ Công Mãn, tế Ngu Thuấn làm thủy tổ, thì cái tội dối đời để tiếm ngôi thực không gì to bằng.
    Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Phu Tiên theo thuyết của Ôn Công cho rằng nếu Chiêu Liệt là dòng dõi của Trung Sơn Tĩnh Vương thì họ hàng xa xôi cũng khó mà tin được. Như vậy là không tin lời của Gia Cát Vũ hầu. Nhưng Gia Cát là bậc hiền tài, hơn nữa thế đại cũng chưa xa lắm, bảo Chiêu Liệt là dòng dõi nhà vua chả lẽ lại không có căn cứ mà nói bịa đặt hay sao? Chu Tử đã theo thuyết ấy thì còn nghi ngờ gì nữa .
    Hồ Quý Ly phế vua làm Bảo Ninh Đại Vương, vì vua là cháu ngoại nên không giết.
    Lộ Tam Giang dâng con chim đen đỏ mỏ, tên là chim yểng, có thể nói được tiếng người. (Người đàn bà hương ấy một hôm bắt được cái trứng chim, để lẫn vào trứng gà cho ấp, khi lớn lên, chim vẫn theo người đàn bà ấy đi cho lợn ăn, bắt chước tiếng gọi lợn, dần dần nói được tiếng người).
    Người trong thành dâng chim trắng.
    Quý Ly sai thuộc quan ở tam quán, chi hậu nội nhân, nội tẩm học sinh chia nhau đi các lộ, bí mật dò hỏi kẻ hay người dở trong quan lại, việc lợi việc hại ở dân gian để tiến hành việc giáng truất hay thăng bổ, quy định thành thể thức lâu dài. Từ đó, các chức thú lệnh mới thay đổi luôn.
    Mùa thu, tháng 8, Quý Ly mở khoa thi thái học sinh. Lấy đử bọn Lưu Thúc Kiệm 20 người. Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành đều đử kỳ này.
    (Tử Tấn, Mộng Nguyên và Thành đều làm quan ở triều nay đến chức Quốc tử giám tế tửu, Hiến làm đến Quốc tử giám giáo thụ).
    Đầu đề bài phú là "Linh kim tàng". Các học trò xin giảng nghĩa đề thi. Quan trường hỏi: "Có lệ cũ như vậy không?" Duy có Bùi Ứng Đẩu trả lời rằng triều Tống có Tôn Hà Khoa đã hỏi nghĩa đề thi "Chi ngôn nhật xuất". Cho nên quan trường đã giảng nghĩa đề này.
    (Ứng Đẩu người Sơn Vi, làm giám thư khố đời Trần, đến đây bị giải chức, vào thi đã 50 tuổi, được bổ chức giám quan. Sau nói việc trái ý, bị giáng làm thái tử thuyết thư, không bao lâu bị giáng làm thái tử tân khách).
    Mùa đông, tháng 12, Quý Ly tìm phả hệ họ nôi, họ ngoại, bà là họ Chu, mẹ là họ Phạm, gọi là họ Hoạ thị.
    Quý Ly lấy Hành khiển Đử Mân làm Thủy quân đô tướng; tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Trần Vấn (được ban họ Hồ) làm Đồng đô tướng; tướng chỉ huy quân Long Tiệp Trần Tùng (được ban họ Hồ) làm Bộ quân đô tướng; tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Đử Nguyên Thác làm Đồng đô tướng; đem 15 vạn quân đi đánh Chiêm Thành.
    Quý Ly nhường ngôi cho con là Hán Thương, tự xưng là thượng hoàng, cùng coi chính sự.
    Hán Thương phong bà phi của mình là Trần Thị làm Hiến Gia hoàng hậu, ở cung Phù Tang. Vì chữ "tang" (cây dâu) đồng âm với chữ "tang" (việc tang) nên đổi là cung Phù Cực.
    Quý Ly sai sứ sang nhà Minh.
    Trước kia, mẹ Hán Thương là Huy Ninh công chúa (truy tôn là Thái tử hoàng hậu), con gái của Trần Minh Tông, trước đã lấy Phò ký lang Trần Nhân Vinh, Nghệ Tông không cho giữ tiết để tang chồng, đem gả cho Quý Ly, sinh ra Khâm Thánh hoàng hậu và Hán Thương.
    Đến đây, sai sứ sang báo nhà Minh, nói rằng họ Trần đã tuyệt tự, Hán Thương là cháu ngoại Minh Tông, tạm trông coi việc nước.
    Hán Thương đánh thuế các thuyền buôn, định 3 mức thượng, trung, hạ. Mức thượng đánh thuế mửi thuyền 5 quan, mức trung 4 quan, mức hạ 3 quan.
    Năm ấy, chúa Chiêm Thành La Ngai chết, con là Ba Đích Lại lên ngôi.
    Tân Tỵ, [1410], (Hồ Hán Thương Thiệu Thành năm thứ 1, Minh Kiến Văn năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 2, sét đánh điếm canh trên thành.
    Hán Thương đổi lịch Hiệp kỷ của nhà Trần, dùng lịch Thuận Thiên.
    Tháng 3, sét đánh vào Đông cung, chết mất 3 người.
    Mùa hạ, tháng 4, Hán Thương sai làm sổ hộ tịch trong cả nước, Hán Thương đổi lịch Hiệp kỷ của nhà Trần, dùng lịch Thuận Thiên.
    Tháng 3, sét đánh vào Đông cung, chết mất 3 người.

    (còn nữa)

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2 1 2 cuốicuối

Chủ đề giống nhau

  1. Giảm béo cho giới văn phòng
    By ngocanh in forum Nàng dâu Nam Định
    Trả lời: 0
    Bài mới: 18-12-2009, 12:32 PM
  2. Vẻ đẹp thuần khiết của Hàn Văn Văn
    By ngocanh in forum Hình ảnh
    Trả lời: 0
    Bài mới: 31-10-2009, 03:39 PM
  3. Cách giảm cân cho giới văn phòng
    By ngocanh in forum Nàng dâu Nam Định
    Trả lời: 0
    Bài mới: 28-10-2009, 09:59 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới: 15-12-2008, 10:33 PM
  5. Về Nam Định đất Văn Nhân
    By xuanquynh in forum Thể Thao - Du lịch
    Trả lời: 0
    Bài mới: 30-11-2008, 12:49 AM

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts

LinkBacks Enabled by vBSEO