+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2 1 2 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 12
dqw
  1. #1
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Danh nhân Nam Định

    Dương Không Lộ (1016-1094)

    Phật giáo cổ
    Ồng quê ở Hải Thanh. Ông xuất thân làm nghề chài lưới, giỏi văn chương, mộ đạo Phật. Ông là một Thiền sư lớn, đã từng tu ở các chùa: Nghiêm Quang, Hà Trạch, Chúc Thánh, về sau được truyền tâm ấn. Ông tịch ở đời Hội Tường Đại Khánh triều Lý. Vua Lý tha thuế cho 20 hộ để lấy tiền đèn hương phụng thờ.



    Ông là bạn của nhà sư Giác Hải. Cả hai đều có công giúp vua Lý Thánh Tông. Giác Hải được phong Quốc Thích, còn Không Lộ được phong Quốc sư. Sách Thiền uyển tập anh chép về Dương Không lộ ghi tổ tiên ông vốn làm nghề chài lưới, đến đời ông mới bỏ nghề để đi tu, thuộc thế hệ thứ chín dòng thiền Quang Bích. Sách cũng chép một bài thơ tứ tuyệt của ông, bài Ngôn hoài, bộc lộ thắm thiết tình cảm thiên nhiên.
    Sự tích của Dương Không Lộ thường bị lẫn lộn với sư Nguyễn Minh Không, vì hai người tuy sống cách nhau nửa thế kỷ - Dương Không Lộ sinh năm 1016, Nguyễn Minh Không sinh năm 1066, nhưng đều đi tu, đều giỏi chữa bệnh và đều được phong Quốc sư. Cả hai người lại đều bị nhập vào truyền thuyết dân gian về ông Khổng Lồ đúc chuông gọi là Khổng Minh Không.
    Dương Không Lộ cũng được coi là vị tổ nghề đúc đồng. Những người làm nghề đúc đồng truyền rằng, khi đi tu ở chùa Phả Lại (Bắc Ninh), có hai chú tiểu được ông rèn cặp. Lúc đã thạo nghề, mỗi chú tiểu trở về quê mình dạy dân làng đúc đồng. Những nơi thờ Dương Không Lộ và hai chú tiểu là: Trung tâm Đề Cầu do Phạm Quốc tài truyền nghề, nay là xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh; Trung tâm Đông Mai do Trần Lạc truyền nghề, nay là xã Đại Đồng, huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên. Tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, nhưng Đề Cầu và Đông Mai ở kề nhau và có chung một tên là Cầu Nôm./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  2. #2
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Nguyễn Giác Hải (1022- ?)


    Ông quê ở Hải Thanh, cùng quê với sư Dương Không Lộ. Chưa rõ năm mất và tên thật. Vốn là con nhà chài lưới, ông coi thuyền là nhà, lênh đên trên sông nước, ngao du khắp đó đây. Năm 25 tuổi, ông bỏ nghề đánh cá đến ở chùa Hà Trạch (?) tu cùng với sư Không Lộ, trở thành nhà sư trong thế hệ thứ 10 dòng thiền Quang Bích.



    Giác Hải tuy là một thiền sư nhưng tu luyện theo phái Một Tông và trở thành nhân vật của truyền thuyết. Cùng với Không Lộ, ông được các vua triều Lý rất kính trọng. Riêng ông được ban quốc tính nên cũng có tên là Lý Giác Hải. Vua Lý Thánh Tông coi ông như bậc thầy, vua Lý Nhân Tông làm thơ khen ngợi tài năng của ông qua bài Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân. Khi ông về già còn được Lý Nhân Tông mời ra, nhưng ông từ chối.

    Ông có dựng ngôi chùa Diên Phúc ở hương Giao Thuỷ, lộ Thiên Trường. Văn bia do Dĩnh Đạt viết, có đoạn ca tụng ông và cho biết ông sang Trung Quốc và nói thêm: cháu bốn đời của ông là Lý Tường Dĩnh được làm quan vào hàng Lục thượng của triều Lý. Tác phẩm của ông đến nay chỉ còn hai bài: Bất giác, Hoa điệp

    Hoa Điệp


    Xuân lai hoa điệp thiện tri thì.
    Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ.
    Hoa điệp bản lai giai thị huyễn,
    Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.


    Dịch nghĩa:

    Hoa và Bướm

    Xuân sang hoa và bướm khéo quan với thời tiết,
    Hoa bướm đều cần phải thích ứng với kỳ hạn của chúng.
    Nhưng hoa với bướm vốn dĩ đều là hư ảo,
    Chớ nên bận tâm về hoa với bướm.


    Dịch thơ:

    Xuân sang hoa bướm khéo quan thì,
    Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ.
    Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo,
    Thây hoa, mặc bướm, để lòng chi!

    Ngô Tất Tố dịch
    (Văn Học Đời Lý)


    Bất giác

    Bất giác nữ đầu bạch,
    Báo nhĩ tác giả thức.
    Nhược vấn Phật cảnh giới,
    Long môn tao điểm ngạch.


    Dịch nghĩa:

    Ai Biết Má Đào Mà Bạc Tóc (1)

    Nào ai biết rằng trong cô gái trẻ trung đã thấy mái đầu bạc;
    Nói cho người học đạo (2) hiểu,
    Nếu cứ lo tìm hỏi đâu là cõi Phật,
    [Thì cũng như cá chép nhảy thi ở] Long môn bị chấm trán (3) mà thôi.


    Dịch thơ:

    Ai biết má đào mà bạc tóc!
    Khuyên người cầu học hiểu cho sâu.
    Ví như cõi Phật hoài công hỏi,
    Cá vượt Long - môn bị điểm đầu.

    Nguyễn Huệ Chi - Băng Thanh dịch


    Chú thích:

    (1) Chữ nữ trong câu này có người cho là nhữ và do đó cả câu cũng có thể hiểu là: ngươi không biết rằng đầu ngươi đã bạc.

    (2) Tác giả: cũng như hành giả, thuật ngữ chỉ người đi tìm học đạo.

    (3) Chấm trán (điểm ngạch): sách Thủy kinh chú chép: hàng năm vào tháng Ba, cá từ các nơi về Long môn nhảy thi. Con nào nhảy qua được cửa ấy thì hóa rồng, không nhảy qua được thì bị chấm trán trở về. Về sau hai chữ chấm trán chỉ người đi thi trượt.

    Hai câu cuối muốn nói: người tu hành Phật giáo phải dùng trực giác mà hiểu, lĩnh hội còn nếu cứ tìm hỏi cõi Phật thì cũng như cá không vượt được Long môn, nghĩa là không thể nào đắc đạo, bởi vẫn còn bám lấy cái "hữu".



    (Nguồn Địa Chí Nam Định)

  3. #3
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Trần Tự Khánh (?-1223)

    Đền Trần tại Nam Định
    Ông là con Trần Lý, em ruột Trần Thừa, người hương Tức Mạc, phủ Thiên Trường. Năm 1209 xảy ra biến loạn, gia đình ông có công khuông phù thái tử Lý Hạo Sảm, nên khi thái tử lên ngôi vua, thân phụ ông và thân tộc được thưởng rất hậu.



    Trần Lý cùng Phạm Ngu rước hoàng tử Sảm về Mang Nhân, đưa Sảm lên ngôi, xưng là Thắng Vương, giáng Thầm xuống tước vương. ít lâu sau, Sảm lại về Hải Ấp, ở tại nhà công quán Lưu Gia. Sảm lấy con thứ của Trần Lý làm nguyên phi, dùng Đàm Dĩ Mông làm Thái úy, Nguyễn Chính lại làm Tham tri chính sự, Trần Lý làm Mệnh tự, Phạm Bố là Thượng phẩm phụng ngự, Tô Trung Từ làm Điền tiền chỉ huy. Như vậy là ở miền ven biển Ngự Thiên đã hình thành một triều đình nhỏ, tuy người họ Lý làm vua, nhưng quyền hành thực tế vào tay anh em họ Trần. Họ Trần dần dần tổ chức thành một dòng quý tộc mới.
    Trong khi đó, Cao Tông chạy lên miền Quy Hóa Giang nương nhờ nhà Hà Vạn, một thủ lĩnh miền thiểu số có thế lực. Cao Tông sai Phạm Du đi Hồng Lộ liên kết với Đoàn Thượng, huấn luyện quân lính để đánh họ Trần. Du bị giết chết.
    Năm sau 1210, Tô Trung Sư đánh lại Quách Bốc ở Khoái Châu, rồi đến Hải Ấp bắt hoàng tử Sảm định đưa về kinh sư. Tháng 4, Cao Tông sai thượng phẩm phụng ngự Đỗ Quảng đến nhà Trung Từ đón hoàng tử Sảm về kinh. Con thứ Trần Lý là Trần Tự Khánh thay cha thống lĩnh binh chúng, được phong là Thuận Lưu Bá, đóng quân ở Thuận Lưu (miền Hải Ấp, Hưng Hà, Thái Bình) nhưng không đầu hàng Cao Tông.
    Tháng 4- 1210, Cao Tông mất, hoàng tử Sảm lên ngôi vua (tức là Huệ Tông).
    Nghe tin vua Cao Tông mất, Trần Tự Khánh đem thủy quân đến bến Tế Giêng (Mỹ Văn, Hưng yên) xin với cậu là Tô Trung Từ cho cùng dự tang lễ Cao Tông, nhưng Trung Từ không cho. Tự Khánh phải đem quân về Thuận Lưu. Cũng tháng đó, Huệ Tông lập Trần thị làm nguyên phi, Phan Lân, Nguyễn Ngạnh đỗ thuyền ở bến Đại Thông, đem quân giúp Trung Từ dẹp Đỗ Quảng rồi đưa Trần thị vào triều. Tháng 7 năm 1211, Trung Từ đang đêm sang Gia Lâm tư thông với công chúa Thiên Cực, bị quan nội hầu Vương Thượng là chồng công chúa giết. Từ đó quyền hành chuyển gọn sang tay họ Trần. Nhân cơ hội đó, anh em họ Trần cũng từ Thiên Trường, Kiến Xương tiến lên đánh chiếm miền Khoái Châu. Vậy là từ năm 1211 đã hình thành ba thế lực phân cát lớn là:
    Họ Đoàn (Hải Dương và Hải Phòng).
    Họ Trần (Thái Bình, Nam Định và nam Hưng Yên).
    Họ Nguyễn (Quốc Oai, Hà Tây)
    Triều đình nhà Lý chỉ kiểm soát vùng xung quanh Thăng Long.
    Chính quyền Trung ương của nhà Lý tuy được phục hồi, nhưng thế lực đã quá yếu. Phạm vi kiểm soát của triều đình dần dần bị thu hẹp lại đáng kể. Trước tình hình đó, triều đình phải dựa vào lực lượng địa phương, thực tế là các hào trưởng. Bấy giờ, thấy lực lượng của họ Trần đã khá mạnh, nhà Lý lại tìm cách dựa vào một lực lượng hào trưởng họ Đoàn để trừ diệt họ Trần. Họ Đoàn đem quân đánh anh em họ Trần ở ải Hoàng Điểm.
    Trần Tự Khánh sai Lại Linh cùng tướng Khoái Châu Nguyễn Đường ra chống cự. Nguyễn Đường bị bắt. Tự Khánh bị thua, giận dữ phá đê cho nước sông chảy tràn vào các ấp rồi về. Miền Khoái Châu mất tin tưởng ở họ Trần, theo về với họ Đoàn.
    Trong khi đó, Tự Khánh vẫn tiếp tục đánh chiếm các miền ở hai bờ sông Hồng để phát triển thế lực. Hai lần Tự Khánh đánh lại được tướng của Đoàn Ma Lôi là Đinh Cẩm, đóng ở Đội Sơn (Duy Tiên, Hà Nam). Họ Trần kiểm soát được cả miền Lý Nhân (Hà Nam). Bấy giờ họ Trần đang tìm cách liên kết với hào trưởng Nguyễn Tự để tiêu diệt thế lực đối địch mạnh nhất của mình là họ Đoàn. Đầu năm 1212, Trần Tự Khánh và Nguyễn Tự họp nhau ở bến Triều Đông, thề làm bạn sống chết có nhau, ''tận trung báo quốc, cùng bình họa loạn''. Hai người chia nhau phạm vi chiếm cứ, lấy sông Lô, sông Thiên Đức (sông Đuống) làm giới hạn, mỗi người thống suất một bên Từ Thượng Khối (Bắc Ninh) đến Na Ngạn (Lục Ngạn, Bắc Giang), các hương ấp dọc theo sông Đuống và đường bộ là thuộc về Tự Khánh. Từ Kinh Ngạn bờ sông Hồng, thuộc Kinh sư) đến Ô Diên (Hoài Đức, Hà Tây) là thuộc về Nguyễn Tự, hẹn đến tháng 3 năm Nhâm Thìn thì họp binh tấn công đất Hồng Châu của họ Đoàn.
    Bấy giờ Huệ Tông truyền cho văn võ bá quan đều phải nghe mệnh lệnh Trần Tự Khánh. Mặt khác, Huệ Tông cùng với Thái hậu và một số cận thần vẫn ngầm mưu diệt họ Trần. Đầu năm 1213, Thái hậu sai người đi với bọn tướng sĩ ở đạo Phù Lạc, đạo Bắc Giang, hẹn ngày cùng phát binh đánh Tự Khánh. Đúng ngày đã định, bọn Phan Thế ở Phù Lạc, Ngô Mãi ở Bắc Giang tiến đến cửa Đại Hưng (cửa nam thành Thăng Long). Tự Khánh đang ở bến Đại Thông, nghe tin đó liền kéo quân lên kinh sư, vào cấm thành, đốt cầu Ngoạn Thiềm rồi lại trở về Đại Thông. Lúc này thế lực của Tự Khánh đã rất mạnh. Sau khi chiếm được đồng bằng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy (trừ miền Đại Hoàng), Tự Khánh phát triển thế lực lên Quốc Oai.
    Miền này trước đây là thuộc phạm vi kiểm soát của Nguyễn Tự. Tự chết, phó tướng là Nguyễn Cuộc thay thế. Tự Khánh tiến quân lên Quốc Oai, dụ hàng được Nguyễn Cuộc.
    Huệ Tông lại tự làm tướng đi đánh Tự Khánh, đến Mễ Sở gặp quân của Vương Lê, Nguyễn Cải. Hai bên chưa giao chiến, quân của Lê, Cải mới hò reo tiến lên, quân triều đình đã tự tan vỡ. Vương Lê, Nguyễn Cải bắt được thuyền rồng. Cánh quân đạo Bắc Giang do Đàm Dĩ Mông thống xuất tới bến An Diên (Thường Tín, Hà Tây) thì bị quân của Trần Thừa tiến đánh.
    Trần Thủ Độ, Trần Hiến Sâm ở tả ngạn cũng tiến đánh thắng quân nhà vua. Bọn Phan Lân, Nguyễn Nộn từ Quốc Oai tiến đến chợ Dừa đánh thắng bọn tướng ở Hồng Lộ là Đoàn Cấm, Vũ Hốt. Lý Huệ Tông phải chạy lên Lạng Châu.
    Tuy đã chiếm được Kinh đô, Tự Khánh vẫn chưa chiếm ngôi nhà Lý. Họ Trần vẫn lấy danh nghĩa phò nhà Lý để thu phục lòng dân, và dễ bề tiến đánh bọn Đoàn Thượng. Cho nên vài ngày sau, Tự Khánh sai người đem thư lên Lạng Châu gặp Huệ Tông và nói rõ ý mình rằng: "Dân tình uất ức, không thấu được lên trên. Cho nên, nhân lòng giận dữ của người trong nước, thần khởi binh dẹp lũ đó, cắt trừ gốc họa, để yên lòng dân mà thôi. Đến như thân phận vua tôi, thần không dám phạm đến một chút nào. Ngờ đâu, phải gánh lấy tội chuyên quyền đánh dẹp, để khiến cho xa giá phải long đong, tự xét tội của thần thật đáng vạn lần chết. Xin bệ hạ nguôi cơn giận dữ, quay xa giá về kinh sư để thỏa lòng người mong muốn".
    Không đón được Huệ Tông về kinh, Tự Khánh (bấy giờ lấy chức tước là Chương Thành hầu) triệu tập các vương hầu, bá quan bàn việc cải lập, sai người đón con vua Anh Tông là Huệ Văn vương đến Hạc Kiều, lập làm vua.
    Tháng 3 năm Giáp Tuất (4- 1214), Huệ Văn vương lên ngôi ở điện Đại An, cải nguyên là Càn Ninh, hiệu là Nguyên Vương.
    Anh em họ Đoàn tấn công đất Bắc Giang, do tướng của Tự Khánh là Nguyễn Nộn đóng giữ. Đánh nhau ở núi Đông Cứu (Gia Lương, Bắc Ninh), Nguyễn Nộn giết chết được Đoàn Nguyễn. Bấy giờ nội bộ phe Tự Khánh xảy ra phản loạn lớn. Tướng ở Cam Giá (thị xã Sơn Tây) là Đỗ Bị lại nổi lên chống cự. Miền Cam Giá lại tách khỏi phạm vi thế lực của anh em họ Trần, hình thành một thế lực mới. Cùng lúc đó, Nguyễn Nộn ở Bắc Giang cũng phản lại Tự Khánh, xây dựng một thế lực rất lớn, Do việc cát cứ của bọn Đỗ Bị, Nguyễn Nộn, kinh thành Thăng Long bị uy hiếp nặng. Tự Khánh lấy hết vàng bạc, của cải các kho và phóng hỏa đốt kinh đô rồi đón vua mới xuống hành cung Lý Nhân (Hà Nam).
    Nguyễn Nộn đem binh đến Thăng Long chống nhau với Tự Khánh. Huệ Tông và thái hậu đang ở Nam Sách trở về Thăng Long, phong cho Nguyễn Nộn tước hầu. Thế là sau khi nương tựa thế lực cát cứ địa phương họ Trần, họ Đoàn không được, chính quyền trung ương của họ Lý lại liên minh với một thế lực cát cứ địa phương thứ ba là Nguyễn Nộn ở Bắc Giang. Cục diện trong nước lúc này đại thể hình thành ba thế lực: Phía bắc là Nguyễn Nộn, phía đông là Đoàn Thượng, phía nam là Trần Tự Khánh.
    Ngoài mấy lực lượng phân cát trên, những thế lực nhỏ ở các địa phương cũng khá nhiều. Một thế lực cát cứ khá quan trọng là Nguyễn Bát, tước Ô Kim hầu ở đất Ô Kim, (miền Hoài Đức, Hà Tây) tuy chống lại triều đình, nhưng không theo Tự Khánh. Ở Quy Hóa (miền Yên Bái, Tuyên Quang dọc sông Hồng) có họ Hà, cha truyền con nối cai trị đất trại này (cho đến đời Trần vẫn còn). Ngoài ra còn thế lực cát cứ ở miền Đại Hoàng (Ninh Bình), của họ Phạm ở Nam Sách. Khắp nơi trong nước ở vào trạng thái hỗn loạn.
    Đầu năm 1214, Huệ Tông chạy đến hương Binh Hợp (xã Tam Hiệp huyện Phúc Thọ, Hà Tây), Trần Tự Khánh được hào trưởng địa phương Đỗ Năng Tể giúp đỡ lấy lại Binh Hợp, rồi đem quân bao vây Thăng Long, đốt cung điện, phá nhà cửa. Huệ Tông phải dựng lều tranh để ở.
    Tháng 4- 1216, Triều đình nhà Lý lại gặp một nguy nan mới: các tướng ở Cảo Xã (Nhật Tảo, Từ Liêm, Hà Nội) là Đỗ Át, Đỗ Nhuế (tước Liệt hầu) chống lại vua. Vua dựa vào Nguyễn Bát, sai Bát đánh lại, nhưng không thắng. Trước tình thế đó, Huệ Tông đành lại quay về nương nhờ anh em họ Trần. Năm ấy Huệ Tông lại lập Trần thị (trước bị giáng xuống làm ngư nữ) làm Thuận Trinh phu nhân.
    Trần Tự Khánh sai Vương Lê đem thủy quân đến đón rước Huệ Tông sang Cứu Liên. Việt Sử lược chép rằng: “Tự Khánh trông thấy vua rất mừng, tướng sĩ đều vui vẻ hò reo. Từ đó, và cùng Tự Khánh quyết ý đánh bọn Bắc Giang vương Nộn, Hiền Tín vương Bát, Hồng hầu Đoàn Văn Lôi, Hà Cao ở Quy Hóa''. Lúc này Nguyên vương bị phế xuống làm Huệ Văn vương (đến 1221 thì Huệ Văn vương chết).
    Anh em, thân thuộc họ Trần chiếm hết các chức văn võ quan trọng: Tự Khánh làm thái úy, khi xướng lễ không phải gọi tên, Trần Thừa được phong tước Liệt hầu làm nội thị phán thủ, Trần Liễu (con cả Trần Thừa), Phùng Tá Chu, Lại Linh được tước Quan nội hầu, con cả Tự Khánh là Hải được phong tước vương. Tập đoàn quý tộc mới này đã lấn át được quý tộc nhà Lý cũ và sẽ thu hút dần dần những quý tộc khác và giành quyền thống trị. Chính sử có ghi: ''Huệ Tông dần dần mắc chứng điên. Chính sự không quyết đoán, giao phó cả cho Trần Tự Khánh. Quyền lớn trong nước dần đã về tay kẻ khác''.
    (còn nữa)

  4. #4
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Tháng 6 năm 1217, Đoàn Thượng đem binh chúng ra hàng, được phong tước vương. Tháng 6 năm 1218, Trần Thừa và Trần Tự Khánh gả em gái là Trần Tam Nương cho Đoàn Văn Lôi (Hồng hầu) thu phục đất Hồng Châu. Thế là họ Trần ''trừ” được một thế lực chống đối quan trọng.
    Tự Khánh tiến đánh thế lực cát cứ của Nguyễn Tự, Nguyễn Cuộc ở Quốc Oai, của Đỗ Bị ở Cam Giá… ''Các thuộc ấp ở Phong châu đều ra hàng''.
    Tự Khánh lại đánh Nguyễn Bát chiếm lại đất Từ Liêm. Nguyễn Bát phải chạy lên miền thiểu số ở sách An Lạc (Vĩnh Phúc).
    Tháng 5-1220, anh em họ Trần tiến đánh Hà Cao ở Quy Hoá, chia quân làm hai đạo: Tự Khánh, Trần Thừa theo sông Quy Hoá (Sông Hồng), Lại Linh, Phan Cụ theo đường sông Tuyên Quang (sông Lô), hai đạo cùng tiến. Cao cùng vợ con thắt cổ chết. Từ đó cả miền Thượng Nguyên Lộ (Thái Nguyên), Tam Đái Giang (Vĩnh Phúc) đều bình yên.
    Mười ba năm (1207-1220) loạn lạc, đất nước bị chia sẻ bởi các thế lực hào trưởng, chính quyền nhà Lý càng suy yếu, nay được thống nhất lại. Quyền lực chính quyền trung ương lại dần dần tập trung, củng cố dưới sự lãnh đạo của họ Trần.
    Từ đây ông mở dần thế lực họ Trần, áp đảo triều đình nhà Lý. Tài trí của ông phối hợp với những thủ đoạn chính trị của Trần Thủ Độ đã mở đường cho sự hình thành một vương triều mới thay thế nhà Lý – vương triều Trần.
    Cuối năm 1223 Trần Tự Khánh- người có công nhiều nhất trong việc dọn đường cho họ Trần nắm chính quyền, chết ở Phù Liệt (được truy phong là Kiến Quốc Đại vương)

    (Nguồn Địa chí Nam Định và Website Đảng cộng sản Việt Nam)

  5. #5
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Trần Liễu (1211 - 1253)


    Trần Liễu sinh năm 1211 và mất năm 1253. Phu nhân của ông là Công chúa Lý Thuận Thiên, con gái đầu của Lý Huệ Tông và bà Trần Thị Dung. Cuối đời Lý, ông có tước phong là Phụng Cần Vương, đến khi Trần Thái Tông dựng nghiệp, phong ông là Hoài vương



    Ông Trần Liễu, không rõ có mấy người con, sử sách chỉ nói đến ba người:
    - Con trưởng là Trần Doãn, được triều đình phong tước Vũ Thành Vương. Năm 1257, khi quân Mông Cổ đang uy hiếp mạnh nước Đại Việt, ông Trần Doãn đem gia đình chạy trốn ra nước ngoài theo giặc, khi ra đến biên giới phía Bắc thì bị Thổ Quan của nhà Tống ở phủ Tư Minh bắt đem nạp lại cho Triều đình nhà Trần.
    - Con thứ là Trần Quốc Tuấn do bà vợ thứ của ông Trần Liễu sinh ra. Bà ấy tên là Trần Thị Nguyệt (theo Tân phả Trần triều Hành trang).
    - Con gái thứ năm là Trần Thị Thiều, năm 1258 được gả cho Vua Trần Thánh Tông, lúc đầu Bà được Vua phong làm Thiên Cảm Phu nhân, sau gia phong làm Thiên Cảm Hoàng hậu. Bà là thân mẫu của Vua Trần Nhân Tông.
    Ông Trần Liễu được triều Lý phong giữ chức vụ Phụng Cần Vương và Thái Uý Hiển Hoàng thời đầu của Triều đại Nhà Trần.
    Năm Đinh Dậu (1237), Thái Sư Trần Thủ Độ ép ông Trần Liễu nhường vợ của mình là Công chúa Thuận Thiên khi Bà đang có thai 3 tháng để gả cho Vua Trần Thái Tông và giáng Hoàng hậu Lý Chiêu Thánh xuống làm Công chúa; Bởi vì Chiêu Thánh lấy Trần Thái Tông đã 12 năm mà không có con, trong lúc triều đình nhà Trần đang mong nhà Vua có Hoàng tử để nối ngôi. Trần Liễu tức giận nổi lên chống lại, Trần Thái Tông cũng phản đối, đang đêm bỏ ngai vàng lên núi Yên Tử ở với Phù Vân Quốc sư.
    Trần Thủ Độ đem quân ép Thái Tông phải trở về, mặt khác điều động tướng sĩ đánh Trần Liễu. Thế không chống cự nổi, Trần Liễu đành khuất phục, nên đang đêm giả làm người đánh cá lẻn lên thuyền ngự của Vua xin hàng. Hai anh em Liễu và Cảnh đã ôm nhau khóc. Thái Tông gia phong cho ông là An Sinh vương, cho hưởng lộc các vùng An Phụ, An Dưỡng, An Sinh và các trại An Hưng, An Bang.
    Năm Quý Sửu (1253) ông mất tại thái ấp của mình. Lúc sắp mất, ông khuyên các con nên giữ tiết nghĩa, không làm điều táng tận thiên lương. Trên núi Yên Tử có đền thờ ông, tục gọi là đền Cao./.

  6. #6
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Trần Thị Dung (Linh từ quốc mẫu) (?-1259)



    Chính tên là Trần Thị Ngừ, con gái Trần Lý, em của Trần Thừa và Trần Tự Khánh; anh em họ với Trần Thủ Độ.




    Năm 1209, Thái tử Sảm chạy loạn Quách Bốc về ở nhờ Hải Ấp của ông Trần Lý, thấy Trần Thị Dung xinh đẹp, xin lấy làm vợ. Cuối năm 1210, Thái tử Sảm lên ngôi hoàng đế là Lý Huệ Tông, bà được lập làm nguyên phi, rồi phong làm hoàng hậu năm 1216. Trần Thị Dung cùng Lý Huệ Tông sinh được hai công chúa: Thuận Thiên công chúa (gả cho Trần Liễu) và Chiêu Thánh công chúa (tức Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh). Năm 1226, nhà Trần đã gả Hoàng hậu triều Lý là Trần Thị Dung cho Thái sư Trần Thủ Độ.
    Bà đã cùng Trần Thủ Độ sắp đặt việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, lập ra nhà Trần (1225). Khi Trần Liễu nổi loạn, Trần Thủ Độ toan giết, nhưng Trần Thị Dung đã kịp thời điều đình, dàn xếp mối bất hòa, lấy đoàn kết và an ninh đất nước làm quyền lợi tối cao.
    Khi quân Mông – Nguyên xâm lược tràn vào Thăng Long, vua quan và binh sĩ phải rút xuống phía nam, Trần Thị Dung được giao nhiệm vụ tổ chức hậu cần. Bà đã thực hiện kế hoạch vườn không nhà trống, đưa người, lương thực và vũ khí ra khỏi Kinh đô đảm bảo an toàn cho hoàng tộc, cung ứng được cho quân đội ngoài mặt trận. Trần Thái Tông phong và là Linh từ quốc mẫu. Tại tỉnh Thái Bình ngày nay còn nhiều địa điểm, địa danh lưu dấu tích công trạng này của bà.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  7. #7
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Trần Nhật Duật

    Trần Nhật Duật là con thứ 6 của Trần Thái Tông, sinh tháng 4 năm Ất Mão (1255) tại hoàng cung Thăng Long. 30 năm sau, tháng 4 năm Ất Dậu, ông trở thành người anh hùng trong trận Hàm Tử nổi tiếng.






    Sử cũ truyền rằng, khi ông sinh ra, ở cánh tay có chữ ''Chiêu Văn đồng tử'', Nhà vua bèn lấy chữ đó đặt tên hiệu cho ông. Lúc lớn lên, ông rất thông minh, có tiếng là người học rộng, hiểu biết nhiều lĩnh vực tri thức.
    Những văn thư của triều đình phần nhiều do ông thảo. Vua Anh Tông có hai mũ võ, tức là mũ để đội trong khi duyệt giảng võ mà chưa biết đặt tên là gì. Khi Anh Tông đi đánh Chiêm Thành, định đội để đi, sai Trần Nhật Duật đặt tên, ông bèn đặt một cái là Uy Vũ, một cái là Uy Đức. Những tiết tấu âm nhạc, khúc điệu múa hát đều do ông làm ra. Tiếc rằng những sáng tác âm nhạc của ông đều không còn đến ngày nay.
    Ông thông hiểu tiếng nói và phong tục của nhiều dân tộc trong và ngoài nước. Người nước ngoài đến kinh đô, nếu là người Tống ông ngồi ghế đối diện, đàm luận cả ngày; là người Chiêm hay các dân tộc khác thì tùy theo quốc tục của họ mà tiếp đãi. Sứ của nước Sách Mã Tích (không rõ nay là nước nào) sang cống, không tìm được người thông dịch, duy chỉ có ông dịch được. Mỗi khi tiếp sứ Nguyên, ông đều nói chuyện trực tiếp, không mượn người phiên dịch. Sứ giả tưởng ông là người Chân Định (Trung Quốc) sang làm quan Đại Việt. Trần Nhân Tôn (cháu của Trần Nhật Duật) thường nói:'' chú Chiêu Văn có lẽ là kiếp sau của người phiên lạc nên nói được tiếng các nước''.
    Năm Canh Thìn (1380), thổ tù ở đạo Đà Giang là Trịnh Giác Mật tụ tập đồ đảng cướp bóc dân chúng. Bấy giờ, Trần Nhật Duật trông coi đạo Đà Giang, lĩnh mệnh triều đình đến dụ hàng. Giác Mật nghe tin, cho người đến nói: "Mật không dám trái lệnh. Nếu ân chúa đi ngựa một mình đến thì Mật xin hàng''. Ông nhận lời, chỉ đem theo vài tiểu đồng đi theo đến trại Mật. Ông dùng tiếng nói của họ để đối đáp, lại cùng với Mật ăn bằng tay, uống bằng mũi. Mật thích lắm, đem gia thuộc xin hàng. Mọi người đều thỏa dạ và kính phục Trần Nhật Duật, không mất một mũi tên mà bình được Đà Giang.
    Năm Ất Dậu(1285), quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Trần nhật Duật bấy giờ đang trấn thủ Tuyên Quang. Trước thế mạnh của quân giặc từ Vân Nam xuống tiến đánh quân Đại Việt ở trại Thu Vật, Tuyên Quang, ông đã thực hiện cuộc rút lui chiến lược theo con đường từ Yên Bình về Bạch Hạc rồi vượt qua vùng các dân tộc thiểu số rút về chỗ vua Trần đóng quân.
    Cuối tháng 4 năm ấy, ông lập chiến công vang dội ở trận Hàm Tử. Giặc bị thiệt hại nặng, bỏ chạy tan tác. Chép về trận này, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng "công đánh giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả''.
    Năm Nhâm Dần(1302), vua Trần Anh Tông phong Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật làm Thái úy Quốc công cùng vua trông coi việc nước. Đến đời Minh Tông năm Giáp Tý(1324) phong thành Thái sư, năm Kỷ tỵ(1329) lại phong Đại vương.
    Ông là người làm việc giỏi, ngay thẳng. Vợ ông là Trinh có lần nhờ ông một việc riêng. Ông gật đầu, nhưng đến khi ra phủ, người thư ký đem việc ấy ra trình, ông không cho.
    Trần Nhật Duật là người nhã nhặn, độ lượng, khoan dung, mừng giận không lộ ra sắc mặt. Trong nhà không chứa roi vọt để đánh gia nô.
    Một lần có kẻ kiện gia tỳ của ông với Quốc phủ( tức Trần Quốc Tuấn). Quốc phủ sai người đến bắt. Người gia tỳ chạy vào trong phủ. Người đi bắt đuổi đến giữa nhà, bắt trói ầm ỹ. Phu nhân khóc, nói: ''Ông là tể tướng mà Bình chương cũng là tể tướng, chỉ vì ông nhu quá nên người ta mới khinh rẻ đến thế". Ông vẫn tự nhiên, chẳng nói gì, sai người bảo gia tỳ rằng: "Mày cứ ra, đâu đâu cũng đều có phép nước ''.
    Ông mất năm Canh Ngọ (1330) đời Trần Hiến Tông, thọ 77 tuổi. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với chặng đường vinh quang nhất của triều Trần.



    (Nguồn Quehuong.org)

  8. #8
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Trần Quang Khải (1241-1294)


    Trần Quang Khải là nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà thơ lớn của dân tộc. Ông từng nắm giữ những cương vị chủ chốt trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288).



    Chiến công giải phóng kinh đô Thăng Long của ông năm 1285 được sử sách ca ngợi "là chiến công to nhất lúc bấy giờ". Những bài thơ còn lại trong tập Lạc đạo của ông cho thấy một hồn thơ bình dị, khoáng đạt, "thanh thoát", "nhàn nhã" mà "sâu xa, lý thú".
    Trần Quang Khải sinh năm 1240, mất năm 1294, là con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông.
    Dưới triều Trần Thánh Tông (1258 - 1278). Trần Quang Khải được phong tước Chiêu minh đại vương. Năm 1274, ông được giao giữ chức Tướng quốc Thái úy. Năm 1282, dưới triều Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng Thái sư, nắm giữ quyền nội chính. Trong cuộc háng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau Trần Quốc Tuấn, có nhiều công lao lớn trên chiến trường.
    Trong sự nghiệp quân sự của Thượng tướng Trần Quang Khải, thì trận ông chỉ huy đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, khôi phục kinh thành vào cuối tháng 5-1285 "là chiến công to nhất lúc bấy giờ", như sử sách từng ca ngợi.
    Trần Quang Khải còn là một nhà ngoại giao giỏi. Năm 1281, khi nhà Nguyên chuẩn bị xâm lược Việt Nam lần thứ hai, chúng cho Sài Thung đem 1.000 quân đưa bọn Trần Dĩ ái về nước. Khi tới biên giới, quân Nguyên bị nhà Trần phục đánh. Trần Dĩ ái bỏ chạy. Sài Thung được "rước" về Thăng Long để dùng vào kế hoãn binh để có thêm thời gian chuẩn bị đối phó với giặc. Lúc Sài Thung về Trung Quốc, Trần Quang Khải làm bài thơ tiễn tặng rất thân, nhã, đoạn kết có câu viết:
    Vị thẩm hà thời trùng đỗ diện,
    Ân cần ác thủ tự huyên lương.

    (Chưa biết ngày nào lại cùng gặp mặt,
    Để ân cần nắm tay nhau hàn huyên).

    Đối với viên sứ giả hống hách của một nước sắp tràn quân sang xâm lược, thái độ Trần Quang Khải vẫn ung dung, niềm nở như vậy, đó cũng thể hiện một nghệ thuật ngoại giao khôn khéo của ông và con người Việt Nam thời ấy.
    Trong văn học sử Việt Nam, Trần Quang Khải là một nhà thơ có vị trí không nhỏ. Thơ ông sáng tác có tập Lạc đạo, nay đã thất truyền, chỉ còn lưu được một số bài. Là một vị tướng cầm quân xông pha khắp trận mạc đánh giặc, song thơ ông lại "thanh thoát, nhàn nhã", "sâu xa, lý thú" (Phan Huy Chú). ấy cũng là cốt cách phong thái của các vua Trần, của người Việt Nam ngàn đời nay. Hãy đọc bản dịch bài thơ Vườn Phúc Hưng của Trần Quang Khải để thấy rõ hơn tâm hồn ông:
    Phúc Hưng một khoảnh nước bao quanh,
    Vài mẫu vườn quê đất rộng thênh.
    Hết tuyết chòm mai hoa trắng xóa,
    Quang mây đỉnh trúc sắc tươi xanh.
    Nắng lên mời khách pha trà nhấp,
    Mưa lạnh sai đồng dỡ thuốc nhanh,
    Báo giặc ải Nam không khói lửa,
    Bên giường một giấc ngủ êm lành.

    (Theo Hoàng Việt thi văn tuyển).
    Tâm hồn Trần Quang Khải vừa thoáng đạt, vừa gần gũi, gắn bó với cuộc sống bình dị của đất nước và con người:
    Nhất thanh ngưu địch thanh lâu nguyệt,
    Kỷ phiến nông soa bích lũng vân.

    (Tiếng sáo mục đồng dưới ánh trăng bên lầu xanh, Mấy chiếc áo tơi dưới mây trên ruộng biếc)
    (Chùa Dã Thự).
    Cuộc đời Trần Quang Khải là một cuộc đời sung mãn, khí phách dọc ngang. Vào tuổi 50, Trần Quang Khải vẫn còn viết những câu thơ đầy khát vọng anh hùng:
    Linh bình đởm khí luân khuân tại,
    Giải đảo đông phong phú nhất thi.

    (Chí khí dũng cảm lúc còn trẻ vẫn ngang tàng, hăng hái. Muốn quật ngã ngọn gió đông, ngâm vang một bài thơ).
    Ngoài bài Tụng giá hoàn kinh sứ, Lưu Gia độ (Bến đò Lưu Gia) cũng là một bài thơ nổi tiếng của Trần Quang Khải, có thể xếp vào trong số những bài thơ hay của thơ cổ Việt Nam.
    Lưu Gia độ khẩu thụ tham thiên,
    Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền.
    Cựu tháp giang đình lưu thủy thượng,
    Hoang tử cổ trùng thạch lân tiền.
    Thái bình đồ chí kỷ thiên lý,
    Lý đại quan hà nhị bách niên.
    Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
    Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.

    (Bến đò Lưu Gia cây cao ngất trời,
    Xưa phò giá sang đông từng đỗ thuyền nơi đây.
    Tháp cũ, đình xưa dựng trên sông thu,
    Đền hoang, mộ cổ trước mấy con lân đá.
    Bản đồ thái bình ghi mấy ngàn dặm,
    Non sông nhà Lý trải hai trăm năm.
    Khách thơ nay trở lại đầu đã bạc,
    Hoa mai như tuyết chiếu xuống sông trong).

    Những vần thơ Trần Quang Khải để lại là những ánh hào quang, ghi dấu ấn của một sự nghiệp lớn trong cuộc đời vị Thượng tướng nhà Trần - vừa làm thơ, vừa đánh giặc.
    Sau khi hoàn thành việc nước, ông về an nghỉ trong thái ấp vua ban ở làng Cao Đài, nay thuộc xã Mỹ Thành huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định cùng phu nhân là Phụng Dương Công Chúa. Ông mất ngày 3 tháng 7 năm Giáp Tuất 1294, thọ 53 tuổi. Vua Trần phong cho ông là : Thượng Tướng Thái Sư Chiêu Minh Đại Vương.

  9. #9
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Nguyễn Bính (1918-1966)

    Nguyễn Bính Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại xã Đồng Đội, Huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định; ông lấy bút hiệu Nguyễn Bính.




    Theo tài liệu được Hội Nhà Văn ở Hà Nội công bố về tiểu sử của ông: thuở nhỏ Nguyễn Bính không được đi học ở nhà truờng mà chỉ đuợc học ở nhà với cha là ông đồ nho Nguyễn Đạo Bình và đồng thời cũng được người cậu ruột là Bùi Trinh Khiêm dạy kèm. Ông mồ côi mẹ rất sớm, gia đình túng quẫn, nên khi lên 10 tuổi đã phải theo anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống. Thời gian này ông được người anh dạy học ở nhà... Những năm đầu thập niên 40, Nguyễn Bính nhiều lần lưu lạc vào Miền Nam. Lúc này ông đổi tên là Nguyễn Bính Thuyết. Năm 1 43, Nguyễn Bính lại đi vào Miền Nam lần thứ ba và đã gặp Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang... Đó là thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây#...

    "Từ độ về đây sống rất nghèo
    Bạn bè chỉ có gió trăng theo
    Những thằng bất nghiã xin đừng tới
    Hãy để thềm ta xanh sắc rêu#."
    (Từ Độ Về Đây - 1943)

    Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Miền Nam. Đến

    Năm 1954, khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, Nguyễn Bính tập kết về Bắc năm 1955 và được bố trí phục vụ trong Hội Nhà văn ở Hà Nội một thời gian.

    Năm 1956, Ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ TRĂM HOA (nguyên văn trong tài liệu của Hội Nhà văn);

    Đến năm 1958, Nguyễn Bính chuyển về tỉnh nhà Nam Định và phục vụ trong Ty Văn Hoá Nam Định cho đến ngày ông từ giã cõi đờị

    Nguyễn Bính chết ngày 20-1-1966, những ngày cuối năm Ất Tị;

    Suốt 30 năm sinh hoạt văn nghệ, nhà thơ đã sáng tác nhiều thể loại như làm thơ, viết kịch, truyện thợ.. Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi cạ Ông đã xuất bản được 20 tác phẩm đủ loại:

    - Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)
    - Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)
    - Hương Cố Nhân (Thơ 1941)
    - Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)
    - Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)
    - Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)
    - Mây Tần (Thơ 1942)
    - Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)
    - Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)
    - Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)
    - Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)
    - Trả Ta Về (Thơ 1955)
    - Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)
    - Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)
    - Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)
    - Tiếng Trống Đêm Xuân (Truyện Thơ 1958)
    - Tình Nghĩa Đôi Ta (Thơ 1960)
    - Cô Son (Chèo cổ 1961)
    - Đêm Sao Sáng (Thơ 1962)
    - Người Lái Đò Sông Vỵ (Chèo 1964)

    Ngoài những tác phẩm kể trên, còn một số thơ rời viết trong năm 1964, 1965 và 1966 chưa kịp xuất bản.


    (Nguồn Vietmedia.com)

  10. #10
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Danh nhân Nam Định

    Trần Thủ Độ (1194 - 1264)

    Đền Trần tại Nam Định
    Trần Thủ Độ (1194 - 1264) là người có công sáng lập ra triều Trần, được vua phong làm Quốc thượng phụ rồi Thái sư. Bằng tài năng, uy tín của mình, ông đã củng cố nước Việt vững mạnh cả về chính trị, kinh tế, quân sự...



    Ông có vai trò rất quan trọng trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), lưu danh với câu nói bất hủ: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ ha đừng lo".
    Trần Thủ Độ là nhân vật trụ cột của triều Trần. Ông là công thần sáng lập triều Trần và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm (1226-1264). Sử chép: "Thái Tôn lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua". (*)
    Trần Thủ Độ cũng là nhân vật bị các sử thần thời phong kiến chê trách nhiều. Dưới ngòi bút của họ, Trần Thủ Độ hiện ra như một quyền thần vô học, có tài mà không có đức, có công với nhà Trần, lại có tội với nhà Lý. Nhưng khi chép về việc "Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý" trong Đại Việt sử ký toàn thư; Ngô Sĩ Liên cũng chú trong ngoặc đơn là "việc này chưa chắc đã có thực".
    Nhân dân lại đánh giá ông với cách nhìn khác quan điểm Nho giáo. Trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có hai câu đối treo ở trước bàn thờ như sau:
    Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải.
    Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu.

    (Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần.
    Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam).
    (**)
    Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ tiên ông vốn nối đời làm nghề đánh cá, từ Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) về vùng sông nước Hiển Khánh, Tức Mặc ven bờ sông Hồng (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), rồi sang ở vùng Bát Xá - Tam Nông (tám làng Xá, ba làng Nông) cạnh dòng sông Luộc. Đến đời thân phụ của Trần Thủ Độ và nguyên tổ Trần Lý của nhà Trần thì họ Trần trở nên giàu có, người ở quanh vùng quy phụ, "...nhân có nhiều người cũng nổi lên làm giặc". Nhất là từ khi Trần Lý có người con gái là Trần Thị Dung lấy Hoàng Thái tử Sảm (sau là vua Lý Huệ Tông) thì thanh thế càng lớn. Trần Thủ Độ cùng với những người con ưu tú khác của họ Trần sớm tham gia lập các đội hương binh đi đánh dẹp các thế lực cát cứ khác, lúc đầu nhằm khôi phục cơ nghiệp cho nhà Lý. Năm 1224, ông được nhà Lý phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, quản lý các đạo quân bảo vệ kinh thành. "Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn".
    Ông mất tháng Giêng năm Giáp Tý (1264), thọ 71 tuổi. Lê Quý Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục: "Trần Thủ Độ sau khi chết, chôn ở địa phận xã Phù Ngự, huỵện Ngự Thiên, nơi để mả có hồ đá, dơi đá, chim đá và bình phong bằng đá, chỗ đất ấy rộng đến hai mẫu, cây cối um tùm. Về tư điền, trước vẫn liệt vào hạng thượng đẳng, các quan phủ, huyện, huấn, giáo đến kính tế".
    Trần Thủ Độ là người có bản lĩnh và cá tính khác thường. Ông xử lý việc gì cũng thẳng thắn, thường quyết đoán theo ý chí của mình, ít chịu để cho tình cảm sai khiến. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Thủ Độ gắn liền với nghiệp đế của họ Trần. Nhưng hiệu quả lịch sử những việc ông làm đã đưa nước nhà qua khỏi cuộc suy vong cuối triều Lý và khởi dựng nên thời đại Đông A rực rỡ những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm và những thành tựu xây dựng đất nước.
    Cuối triều Lý, chính quyền trung ương bất lực trước cuộc suy thoái về kinh tế và hỗn loạn về chính trị. Thiên tai, mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp. Các thế lực cát cứ nổi lên khắp nơi đánh giết lẫn nhau, cướp bóc bừa bãi. Ngoài biên thùy, Chiêm Thành và Chân Lạp thường xuyên quấy phá. Đế quốc Mông Cổ cũng đã tung vó ngựa sang phía Đông đánh Kim, diệt Tây Hạ, chiếm Triều Tiên, chuẩn bị xâm lược Tống và các nước phía Nam.
    Trong lúc ấy, vua Lý Cao Tông vẫn mải mê rong chơi, say đắm thanh sắc, thích xây dựng cung điện, đền miếu, không thiết gì đến chính sự. Vua Lý Huệ Tông thì nhu nhược, bệnh hoạn, năm Giáp Thân (1224) truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 6 tuổi rồi đi tu ở chùa Chân giáo.
    Trần Thủ Độ đạo diễn cuộc chính biến tháng Chạp năm ất Dậu (tức tháng 1-1226), xếp đặt việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh với lời lẽ trong chiếu nhường ngôi rằng: "...Trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề".
    Làm cuộc đảo chính thay đổi triều đại mà không xảy ra đổ máu và đảo lộn lớn trong nước, Trần Thủ Độ tỏ ra là một nhà chính trị sáng suốt, khôn khéo.
    Ngay sau khi lên làm vua, Trần Thái Tông phong Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ nắm giữ mọi việc cai trị thiên hạ. Năm sau lại phong Trần Thủ Độ làm thái sư giữ tất cả việc hành quân, đánh dẹp trong nước. Ông là một nhà lãnh đạo tài giỏi và tận tụy chăm lo việc nước. Phàm công việc gì làm cho đế nghiệp Đông A vững mạnh, ông đều cương quyết làm bằng được. Năm 70 tuổi, trước lúc chết 5 tháng, sử còn chép việc ông đi tuần ở vùng biên giới Lạng Sơn. "Thủ Độ tuy làm tể tướng mà phàm công việc, không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp, giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất".
    Ngay từ những năm đầu triều Trần, ông đã đánh dẹp được các thế lực cát cứ ở các địa phương và tổ chức lại bộ máy hành chính từ trung ương đến cấp xã. Ông đặt ra sổ trướng tịch ghi chép danh sách dân gian trong xã, thôn, từ quan văn, quan võ, binh lính, hoàng nam, trung lão, tàn tật, người ngụ cư... để nắm chắc hộ khẩu trong nước. Có lần duyệt định hộ khẩu, bà Linh Từ quốc mẫu muốn xin riêng cho một người làm câu đương (một chức dịch trong xã). Ông gật đầu, rồi ghi tên họ, tên quê quán. Khi xét đến xã ấy, hỏi tên ấy đâu, người ấy mừng rỡ chạy đến. Trần Thủ Độ nói: "Ngươi vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt". Người ấy kêu van xin thôi, hồi lâu mới tha cho. Từ đấy không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa.
    Ông đề cao tư tưởng pháp trị, định ra luật lệ, quy chế hành chính và gương mẫu thực hiện. Sử còn chép chuyện Linh Từ quốc mẫu có lần ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm bị người quân hiệu ngăn lại. Về nhà bà khóc bảo với Trần Thủ Độ rằng: "Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu ấy khinh nhờn như thế". Thủ Độ giận sai đi bắt. Người quân hiệu ấy chắc là phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu đem sự thực trả lời. Thủ Độ nói: "Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa". Rồi lấy vàng lụa thưởng cho người ấy.
    Là người có công dựng nước, có tài trị nước, vua cũng ít khi dám trái ý. Bấy giờ có người đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông, khóc mà nói rằng: "Bệ hạ trẻ thơ mà Thủ Độ quyền hơn cả vua, đối với xã tắc sẽ ra sao?". Vua lập tức cùng người ấy đến nhà Trần Thủ Độ và nói lại chuyện đó. Trần Thủ Độ trả lời: "Đúng như lời người ấy đã nói", rồi lấy tiền lụa thưởng cho người ấy.
    Trần Thái Tông vì quý trọng Thủ Độ nên muốn dùng anh ruột ông là An Quốc làm tể tướng. Ông thẳng thắn nói với vua: "An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần nên nghỉ việc, nếu cho thần là hiền hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng là tể tướng thì việc trong triều đình sẽ ra sao". Vua bèn thôi.
    Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Cổ, Trần Thủ Độ có vai trò hết sức quan trọng. Tháng 12 năm Đinh Tỵ (tức tháng 1-1258), quân Mông Cổ, sau khi tiêu diệt nước Đại Lý (Vân Nam), đã tiến vào lưu vực sông Hồng. Thế giặc rất mạnh. Quân Đại Việt bị đánh lui, vua Thái Tông phải bỏ Thăng Long rút xuống phía nam. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền em ruột là Thái úy Trần Nhật Hạo hỏi kế. Nhật Hạo lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ "Nhập Tống" ở mạn thuyền, ý khuyên vua nên chạy sang nhờ vả nước Tống. Vua bèn rời thuyền đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, Trần Thủ Độ trả lời:
    - Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!
    Vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến, câu trả lời đanh thép ấy của ông đã giữ vững được tinh thần dám đánh và quyết thắng của quân dân Đại Việt trong cuộc phản công quyết liệt đánh vào Đông Bộ Đầu ngày 29-1-1258, buộc địch phải rút chạy về nước.
    Trần Thủ Độ xứng đáng được xếp vào hàng những nhân vật kiệt xuất, đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc.
    ----------
    (*) Các đoạn trích dẫn không ghi dấu đều lấy ở sách Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1967, Tập I-II.
    (**) Theo tài liệu của cụ Hoa Bằng lưu tại Viện sử học.

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2 1 2 cuốicuối

Chủ đề giống nhau

  1. thành viên mới xin điểm danh
    By nguyenan0788 in forum Đồng hương miền Bắc
    Trả lời: 12
    Bài mới: 19-11-2011, 02:43 AM
  2. Đêm của các cựu danh thủ bóng đá Anh tại Hà Nội
    By lehongphong in forum Thể Thao - Du lịch
    Trả lời: 0
    Bài mới: 19-11-2009, 03:59 PM
  3. MU áp đảo danh sách 10 cầu thủ giàu nhất bóng đá Anh
    By lehongphong in forum Thể Thao - Du lịch
    Trả lời: 0
    Bài mới: 08-10-2009, 11:58 PM
  4. MU áp đảo danh sách 10 cầu thủ giàu nhất bóng đá Anh
    By lehongphong in forum Thể Thao - Du lịch
    Trả lời: 0
    Bài mới: 08-10-2009, 05:10 PM
  5. Trả lời: 0
    Bài mới: 08-10-2009, 10:15 AM

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts

LinkBacks Enabled by vBSEO