+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2 1 2 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 15
dqw
  1. #1
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Làng nghề Nam Định

    Làng nghề chạm khắc La Xuyên

    Chạm khắc
    Theo thần tích của làng thì ông tổ làng nghề mộc có tên là Ninh Hữu Hưng, quê ở xã Chi Phong, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.



    Ông sinh năm 936, trong một gia đình nối đời làm nghề thợ mộc nên đã tiếp thu được truyền thống đó của tổ tiên và trở thành một thợ giỏi nổi tiếng cả vùng.
    Khi Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước, cho tuyển nhiều nhân tài và thợ giỏi ở khắp các địa phương về giúp triều đình, trong đó có Ninh Hữu Hưng. Ông được nhà vua giao cho việc xây dựng cung điện trong kinh đô. Đây là dịp ông thể hiện tài năng. Ông đã được vua Đinh phong cho chức Công tượng lục phủ Giám sát tướng quân.
    Nhà Lê thay nhà Đinh, sau khi đánh thắng quân Tống, Hoàng đế Đại Hành cho xây dựng lại cung thất, Ninh Hữu Hưng càng được trọng dụng. Là người có vũ dũng, ông được chọn vào đội quân Thiên cận đi bảo vệ nhà vua. Lê Đại Hành thường đi thăm nhiều nơi và Ninh Hữu Hưng được chọn đi theo xa giá.
    Một lần vua Lê qua vùng Cái Nành (nay là đất La Xuyên) thấy thấp thoáng có bóng ngôi miếu cổ. Nhà vua cho dừng thuyền vào thăm, thấy đây là vùng đất đẹp nhưng dân cư thưa thớt, chỉ có dăm nhà lác đác ven sông, nhà vua đã cho ông Ninh Hữu Hưng ở lại đất này. Từ đó, ông định cư tại đây rồi đem cả con cháu, họ hàng đến vùng đất mới lập thành ấp lớn. Ông bỏ tiền chiêu dân, khuyến khích việc canh tác, phát triển nghề thủ công. Nghề mộc được ông truyền lại cho dân sở tại ngày càng phát triển. Công đức của ông thấm đến mọi nhà nên những người đến đây làm ăn đều lấy họ Ninh. Vì thế, khu vực này từng có tên là Ninh Gia ấp sau đó tên là Ninh Xá. Ông mất ngày 6 tháng 4 năm Kỷ Mùi (1020). Để tỏ lòng biết ơn và tôn kính, dân làng đã lập đền thờ ông.
    La Xuyên là một làng nghề đã có lịch sử ngàn năm với hàng chục thợ giỏi tham gia xây dựng nhiều cung thất, đền đài cho các triều đại phong kiến. Ninh Hữu Hưng ông tổ đầu tiên về lập ấp, truyền nghề cho địa phương là một thợ nổi tiếng đã được hai triều đại Đinh – Lê trọng dụng.
    Nghề mộc truyền thống ở La Xuyên mà đỉnh cao là nghệ thuật chạm khắc đã đạt đến độ hoàn hảo. Người thợ nơi đây đã từng đi xứ Đông, xứ Đoài làm đẹp cho biết bao làng quê. Sản phẩm lớn của họ là những công trình kiến trúc với toà ngang dãy dọc được mở rộng ra về mặt bằng và nâng cao chiều cao lên với những mái cong cổ kính. Sản phẩm phong phú và thông dụng như hương án, bát biểu, tượng, cửa, võng, sập gụ, tủ chè đều thể hiện trình độ kỹ thuật cao.
    Truyền thống làng nghề cho đến nay còn hội tụ một phần ở ngôi đình làng. Nhũng người thợ tài hoa đã thực sự đem trí tuệ, bàn tay điêu luyện của mình để dựng nên một công trình bề thế về kiến trúc, không gian được mở rộng với một quần thể bao gồm đình, đền, phủ, miếu và người nghệ nhân đã thổi vào đó sức sống làm cho nhiều mảng phù điêu, mảng chạm tồn tại mãi cùng thời gian.
    Ngày nay, La Xuyên chỉ là một thôn của xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, nhưng làng nghề này đã sống cùng với thời gian và ngày càng nổi tiếng. Với truyền thống là một làng nghề lâu đời, La Xuyên đã và đang góp phần làm rạng rỡ cho quê hương, đất nước.


    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  2. #2
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Làng nghề khảm trai Ninh Xá



    Ông tổ nghề của làng chạm khắc gử, khảm trai Ninh Xá, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là Lão La Đại Thần. Tên thật của cụ là Ninh Hữu Hưng.




    Cụ là tướng đặc biệt - tướng xây dựng, tướng hậu cần của vua Đinh, vua Lê. Cụ đã giúp triều đình dẹp loạn 12 sứ quân, đánh đuổi giặc Tống sâm lược, xây dựng cố đô Hoa Lư. Ứng dụng quy luật mộc sinh hoả - cụ đã phổ biến cách dùi cây lấy lửa cho binh lính trong hành quân, tiến quân hay phòng ngự, vẫn tự làm ra lửa để nấu nướng, làm lửa hiệu, đánh giặc. Về già cụ Ninh Hữu Hưng còn giúp dân bốn làng Ninh Xá, La Ngạn, Khả Lũ, Trịnh Khiết học nghề chạm khắc gử, khảm trai. Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) phong cụ Ninh Hữu Hưng là “Công tượng lục phù giám sát Đại tướng quân”. Còn dân làng Ninh Xá và ba làng nói trên, suy tôn cụ là Thành hoàng, là ông tổ nghề.
    Gần mười thế kỷ qua, từ nơi đây đã có rất nhiều nghệ nhân đến xây dựng cố đô Hoa Lư, kinh đô Thăng Long, Đông Đô, Huế và nhiều đình, đền, chùa, miếu, lăng, phủ ở mọi miền đất nước. Ngày nay dân làng vẫn ăn nên, làm ra, ấm no hạnh phúc nhờ nghề truyền thống chạm khắc gử, khảm trai của mình. Sập gụ, tủ chè của làng nổi tiếng khắp cả nước và nước ngoài, về độ bền, vẻ đẹp của các hoa văn, mảng khối, đường nét, gợi chất thơ từ nhiều điển tích cổ Phương Đông.
    Uống nước nhớ nguồn, hưởng bóng mát nhớ cây cao, dân làng Ninh Xá đã nhiều năm sưu tầm, chỉnh lý, bổ xung tư liệu về tổ nghề. Họ đã góp nhiều tiền, của để tu bổ, tôn tạo đền thờ tổ nghề. Đền thờ có đôi câu đối ca ngợi cụ Ninh Hữu Hưng:
    “Mộc tượng giáo dân nguyên hữu ý
    Kiến đô lập quốc sử lưu công”
    Đền thờ được Bộ Văn hoá cấp bằng bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa năm 1991.
    Hàng năm dân làng vẫn tổ chức lễ hội mùa xuân vào ngày 6-3 Âm lịch. Đặc biệt, họ đã tiến hành nghi thức “Kéo lửa để Khai Hội”. Sau hồi trống trang trọng, tưng bừng, một vị cao niên phát lệnh cho trai làng, kéo lạt giang cọ vào thanh gử xoan ngâm, tạo nhiệt. Nhiệt truyền rồi làm cháy bùi nhùi rơm khô. Cụ già lấy ngọn lửa vừa phát sinh thắp hương cho cả làng làm lễ dâng hương. Sau đó chuyển bát hương lên kiệu rước.
    Bằng nghi thức “Kéo lửa Khai hội” nói trên, dân làng thành tâm tưởng nhớ đến sáng kiến tạo ra lửa của cụ tổ nghề Ninh Hữu Hưng, thủa xa xưa, giúp vua Đinh, vua Lê nuôi quân, đánh giặc, dẹp loạn, xây dựng. Họ cũng tôn vinh nghề truyền thống. Từ gử họ sẽ làm ra những mặt hàng thủ công mỹ nghệ như ngọn lửa mãi mãi cần thiết cho đời sống của con người. Nghi thức kéo lửa Khai Hội còn thắp lên niềm tin sâu xa vào Hạnh phúc Trường sinh của làng nghề Ninh Xá.

    (Nguồn vhnd.thitruongnamdinh.com)

  3. #3
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Làng rèn Vân Chàng (xã Nam Giang, huyện Nam Trực)

    Làng rèn Vân Chàng
    Tương truyền, vào đời vua Trần Nhân Tông (1279-1293), nghề rèn đã được du nhập vào Vân Chàng.



    Khi đó làng có 15 cụ tổ thuộc 15 dòng họ gồm Đoàn, Trần, Vũ, Nguyễn, Đỗ, Ngô... được sáu ông thầy từ nơi khác đến truyền dạy. Để ghi nhớ công lao, quê hương Vân Chàng đã tôn sáu ông thầy dạy nghề là Lục vị Thánh sư, lập đền thờ làm Thành hoàng của làng
    Thời xa xưa Vân Chàng chỉ sản xuất được một số mặt hàng đơn điệu mang tính thủ công như dao, kéo, bản lề, đinh, ốc vít, bếp kiềng, cuốc xẻng, răng cào... Mấy chục năm trở lại đây, làng nghề Vân Chàng từng bước phát triển. Sản phẩm của họ một phần đã được cơ giới hóa với kỹ nghệ tinh xảo, mẫu mã đẹp đạt độ bền cao trong sử dụng, nhất là các phụ tùng xe đạp. Chính nhờ những mặt hàng này, trên chục năm trước hai hợp tác xã Tân Tiến và Tiền Tiến của đại phương trở thành đơn vị tiên tiến xuất sắc trong ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp.
    Do cơ chế thị trường, hai hợp tác xã cơ khí đã giải thể, song nghề cơ khí ở Vân Chàng lại phát triển chưa từng có. 95% số hộ trong làng vẫn tâm huyết với nghề; 2/3 số hộ, cơ sở sản xuất có trang bị máy móc. Tổng giá trị máy móc của Vân Chàng tiêu thụ 40 đến 45 tấn phế liệu cả kim loại lẫn than, thu hút 1.000 đến 1.200 lao động từ khắp nơi đổ về. Máy móc đưa vào sản xuất ngày một nhiều, làm cho mặt háng của Vân Chàng ngày một phong phú, tân tiến. Riêng kéo đã có mấy chục loại, chất lượng tốt. Mối máy thụt, máy đùn, máy nặn ở Vân Chàng một ngày có thể sản xuất 150 ấm hoặc xoong nhôm, 100 đôi vành hoặc chắn bùn, 200-300 pêđan, 400-500 chân chống xe đạp. Mọi phế liệu được chuyển về Vân Chàng, đều trở thành đồ vật hữu ích, đạt hiệu quả sử dụng cao. Ngày ngày, hàng của Vân Chàng đi khắp nơi trong nước, sang cả Lào, Campuchia.
    Hiện Vân Chàng có khoảng 200 hộ, thu nhập mỗi ngày 120 – 150 nghìn đồng. Vân Chàng không thiếu người giỏi tay nghề và hầu hết những tay nghề giỏi đều có nhà xưởng sản xuất với quy mô từ bốn, năm đến bẩy, tám công nhân. Nhờ thế đời sống người dân Vân Chàng luôn tăng trưởng, nhà cửa xây cất khang trang, trong đó có 40% là cao tầng, 90% số hộ có xe máy, ti vi màu, không còn hộ nghèo. Đường làng ngõ xóm được bê tông hóa cao ráo sạch sẽ. Làng đã có bốn trạm điện, tổng công suốt 2.000KVA, khoảng 400 máy móc lớn nhỏ, hàng tháng tiêu thụ hàng nghìn tấn phế liệu kim loại. Đời sống ở đây đang đi lên từ nghè rèn truyền thống.
    Làng có 80 cửa hàng dịch vụ đời sống, một chợ họp chiều, thường ngày lương thực, thực phẩm tiêu thụ hàng tấn. Bởi vậy người Vân Chàng đi tới đâu làm giàu tới đó. Tại quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, có cả một làng Vân Chàng trên 300 hộ, không ít người có vốn lên đến hàng tỷ đồng. Họ liên doanh với nhiều nơi ở trong nước và cả với người nước ngoài như Đài Loan, Thái Lan, Singapo./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  4. #4
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Làng hoa Vỵ Khê: xã Điền Xá, huyện Nam Trực


    Vỵ Khê là một thôn nằm dọc bờ sông Hồng, đất đai màu mỡ, ruộng đồng phì nhiêu. Đây là một làng hoa, làng cây cảnh không chỉ nổi tiếng trong tỉnh Nam Định mà cả nước biết tiếng.



    Nghề trồng hoa xuất hiện từ cuối thời Lý, phát triển mạnh dưới thời Trần và ngày nay nghề trồng hoa, uốn tỉa cây cảnh ở Vỵ Khê đã phát triển sang nhiều xã, trở thành một nguồn thu lớn của địa phương.
    Theo thần tích và truyền thuyết ở địa phương thì ông tổ nghề trồng hoa là Tô Trung Tự. Tô Trung Tự là cậu vợ của Lý Huệ Tông đến Nguyễn Gia Trang (nay là thôn Vỵ Khê, xã Điền Xá), thấy nơi đây là vùng đất đẹp, ruộng đồng màu mỡ, dân cư thuần phác, ông đã cho lập hành cung làm nơi đi lại. Tại đây, ngoài việc khuyến khích sản xuất mở rộng nghề nông, ông còn dạy dân địa phương trồng hoa, trồng cây cảnh để làm kế sinh sống lâu dài.
    Nhà Trần lên ngôu vào năm 1225, đã xây dựng cung Tức Mạc thành trung tâm chính trị - văn hóa lớn thứ hai sau Thăng Long. Làng hoa Vỵ Khê lúc đó có tên là Nguyễn Gia Trang có điều kiện phát triển để phục vụ cho nhu cầu của cung đình. Sang đến giữa thế kỷ XV, làng hoa vẫn liên tục phát triển.
    Có thể nói, Vỵ Khê là làng quất nguyên thủy của Việt Nam và quất Vỵ Khê nổi tiếng khắp cả nước. Vỵ Khê còn là quê hương của nhiều giống hoa như bạch đào, phong lan, địa lan, bạch trà, hồng trà, đỗ quyên, hải đường...cùng hàng trăm các giống hoa khác như thược dược, lay ơn, đồng tiền. Hoa ngâu dùng làm hương liệu ướp chè được trồng rất nhiều, nên ở đây không chỉ có vườn ngâu, những bờ dậu ngâu, những vòm cổng bằng ngâu xanh biếc.
    Cây thế cũng là thế mạnh của làng Vỵ Khê. Cây cảnh ở đây được uốn lượn thành những đôi rồng (long hạ), rồng bay (long thăng), hình Chùa Một Cột, Chùa Tháp...và nhiều thế cây đẹp./.


  5. #5
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Làng nghề sơn mài Cát Đằng


    Nói đến làng quê từng có sản phẩm sơn mài nổi tiếng nhất miền Bắc phải nói đến làng quê sơn mài Cát Đằng ở xã Yên Tiến (huyện Ý Yên, Nam Định) - một làng nghề có bề dày lịch sử rất lâu đời.



    Người ta nói rằng, các đồ sơn mài vẫn dùng để trang trí nội, ngoại thất trong các lăng tẩm, các cung đình xưa ở Huế, Đà Nẵng, Hà Nội… chủ yếu là do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng Cát Đằng làm ra
    Cát Đằng nằm trên vùng đất kẹp giữa hai trục đường bộ và đường sắt xuyên Việt. Theo sử sách ghi lại, nghề sơn mài làng Cát Đằng có từ khoảng thể kỷ 11, do hai ông tên là Ngô Dũng và Đinh Ba (từng làm quan trong triều thời vua Đinh) đến làng ở và truyền dạy nghề cho trai tráng trong làng. Ngày giỗ ông Tổ nghề được tổ chức linh đình vào rằm tháng giêng hàng năm.
    Cũng như các làng quê Việt Nam khác, Cát Đằng cũng đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhưng nghề sơn mài ở đây vẫn được gìn giữ và ngày một phát triển. Trước đây, người ta vẫn thấy hàng sơn mài chỉ được làm trên những tấm gỗ đã được chọn lựa rất kỹ, thì nay, người Cát Đằng đã sáng tạo thêm những sản phẩm từ việc chắp nứa rồi đem sơn mài. So với gỗ, loại mặt hàng này vừa nhẹ, giá rẻ hơn, chất lượng đảm bảo, thu hút được nhiều khách hàng và chủ yếu để xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.
    Tất nhiên, để có được sản phẩm chắp nứa sơn mài sớm "nổi danh" như thế cũng không phải đơn giản. Ngay từ việc chọn mua nứa, người thợ cũng phải chọn những cây nứa bánh tẻ, không quá non cũng không quá già. Khi đem về phải mang ngâm dưới nước ít nhất là 6 tháng để sản phẩm sau này không bị mối mọt, có độ bền lâu. Sau đó, đến khâu pha nứa, pha nan, vót và đánh bóng nan rồi người ta để nghiêng nan cẩn thận uốn chặt theo hình khuôn, rồi quết một lớp keo được pha chế bằng tạp chất sao cho không còn kẽ hở giữa các vòng nứa rồi mới đem mài miết đến khi sản phẩm nhẵn bóng và đạt được độ mỏng cần thiết mới thôi. Trước đây, riêng khâu mài phải làm bằng thủ công, thường mất ít nhất 3 tháng mới xong một sản phẩm như bình hoa, chậu cảnh, còn bây giờ đã có máy móc hiện đại, nên chi mất vài ba ngày hoặc một tuần là xong. Đặc biệt không được dùng nan cật, vì sản phẩm sẽ không đảm bảo độ bền, dẻo vốn có. Đến đây coi như khâu sơ chế thô đã hoàn thành. Những sản phẩm ấy tiếp tục được chuyển đến tay các nghệ nhân trang trí thêm đủ kiểu hoa văn cách điệu, pha màu rồi phun sơn thật đều lên sản phẩm. Theo như nhiều nghệ nhân trong làng, thì khâu pha chế và phun sơn là khó nhất. Bí quyết của làng nghề cũng được giữ kín ở đây, nếu không phải là trai làng thì không được truyền dạy. Đã có nhiều người ở nơi khác đến Cát Đằng học nghề nhưng họ vẫn không thể biết bí quyết pha trộn sơn, hay sản phẩm vừa được phun sơn bỗng gặp trời mưa thì phải xử lý thế nào để sơn không bị bay mất màu, đành phải chờ nắng rồi đem sơn lại, còn người Cát Đằng lại có thể giữ nguyên màu sơn ở bất cứ thời điểm hay hoàn cảnh nào. Nhiều nghệ nhân của làng đã ra các tỉnh ngoài để làm và mở các lớp dạy nghề sơn mài ở khắp nơi. Dù đi đâu, họ cũng sớm khẳng định sự tài hoa, khéo léo của nghệ nhân Cát Đằng.

    (Nguồn namdinh.vn)

  6. #6
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Nghề dệt vải, lụa


    Hầu như vùng nào của Nam Định cũng có nghề dệt. Sách Đại Nam nhất thống chí chép về tỉnh Nam Định: “Trong toàn hạt sĩ nông có nhiều mà công thương cũng nhiều. Phụ nữ làm nghề chăn tằm dệt vải”. Dệt có nhiều loại: dệt lụa, dệt vải, dệt chiếu...



    Dệt lụa gắn liền với nghề trồng dâu nuôi tằm. Như đã đề cập vùng đất Nam Định phù hợp với cây dâu, thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm cung cấp nguyên liệu cho nghề dệt lụa.
    Dệt vải gắn với nghề trồng bông. Theo tài liệu giữa thế kỷ XIX, Nam Định cùng với Hưng Yên là hai địa phương có nghề trồng bông phát triển. Bông chủ yếu cung cấp cho nghề dệt vải, ngoài ra còn cung cấp nguyên liệu cho nghề ép dầu nam dùng thắp sáng.
    Vùng Quần Anh (Hải Hậu) xưa có nghề dệt lụa nổi tiếng. Lụa Quần Anh đẹp nổi tiếng, đã trở thành quen thuộc với cư dân vùng duyên hải, và nói chung cả tỉnh Nam Định. Trong sách Quần Phương nông tuế khảo soạn vào đầu thế kỷ XX, Trần Duy Vôn cho biết: “Phụ nữ Quần Phương không quen nghề làm ruộng như cầy, bừa, gặt hái khó nhọc, chỉ biết tới mùa thì vò đạp, rê sẩy thôi, nên nhiều người làm nghề dệt lụa”. Người dân nơi đây rất có kinh nghiệm trong việc nuôi tằm.
    Ngoài vùng Quần Anh, nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa còn có ở các làng Thuận An, Ngọc Cục (thuộc tổng Hành Thiện), Lạc Nghiệp (thuộc tổng Trà Lũ) huyện Giao Thủy, nay đều thuộc huyện Xuân Trường...Hay chuyện về ươm tơ như thôn Đông Thượng, xã Bách Tính, xã Quy Phú (đều thuộc tổng Cổ Nông), nay thuộc huyện Nam Trực.
    Cuối thế kỷ XIX, trên cơ sở nghề trồng bông dệt vải truyền thống, đặc biệt là khả năng cung cấp nguyên liệu của Nam Định và các tỉnh lân cận, thực dân Pháp đã cho xây dựng tại thành phố Nam Định nhà máy dệt sớm nhất Bắc Kỳ, rồi dần dần phát triển thành trung tâm dệt lớn nhất miền Bắc./.

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  7. #7
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Một số nghề khác

    Dệt chiếu
    Nghề dệt chiếu cói có ở nhiều nơi, nhưng tập trung ở khu vực phía Nam, nhất là các huyện duyên hải. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Cói: có thể dệt chiếu và lập nhà”, “Chiếu: các xã Trà Lũ, Quần Anh huyện Giao Thủy,...”



    Nghề dệt
    Cũng có thể xếp cùng loại nghề dệt với một số nghề khác như đan bao tải, đan võng, đan lưới.
    Một số làng có nghề đan bao tải, thường đan bằng cỏ lác. Đó là các làng Đô Quan, làng Bách Tính nay thuộc huyện Nam Trực. Một số làng thuộc huyện Hải Hậu cũng có nghề này.
    Một số làng có nghề đan võng gai. Đó là các làng Bảo Long nay thuộc huyện Mỹ Lộc, làng Hạ Đồng nay thuộc huyện Trực Ninh...
    Một số làng có nghề đan võng gai. Đó là các làng Bảo Long (nay thuộc huyện Mỹ Lộc), làng Hạ Đồng nay thuộc huyện Trực Ninh, làng Hưng Thịnh nay thuộc huyện Nghĩa Hưng...
    Một số làng có nghề đan lưới. Đan lưới gắn với nghề đánh bắt cá. Nghề đan lưới ngoài việc cung cấp cho những người, những làng làm nghề đánh bắt cá còn có thị trường tiêu thụ rải đều trên tất cả các làng. Môi trường sông nước và ao hồ khiến đánh bắt và nuôi trồng thủy sản phổ biến nhiều nơi và vì thế không đâu là không cần chài, lưới, vó...tuy mức độ khác nhau
    Nghề nề
    Nề không phải là một nghề khó học, nhưng để trở thành người thợ nề giỏi cũng không dễ dàng, nhất là việc xây dựng xưa thường có những trang trí phức tạp. Hầu như ở làng nào cũng có người làm thợ nề, nhưng chỉ đảm nhiệm những công việc xây dựng đơn giản. Còn những việc xây dựng lớn như các công trình tín ngưỡng tôn giáo (nhà thờ, chùa, đình, đền...) hay nhà ở thì phải do những hiệp thợ đến từ những làng có nghề nề phát triển, có những thợ nề giỏi. Trong số này nổi tiếng nhất là thợ nề của các làng An Cổ (nay thuộc xã Mỹ Thành huyện Mỹ Lộc), làng Quang Điểm (nay thuộc xã Yên Phương, huyện Ý Yên)....
    Thợ đá
    Sản phẩm làm ra từ chất liệu đá rất phong phú. Đó có thể là các tác phẩm điêu khắc (tượng, bia...), là vật liệu cho xây dựng (chân cột, thềm...), là đồ dùng cho sinh họat hàng ngày (cối giã gạo, cối xay bột, trục lúa...). Thợ đá Nam Định có thể làm tất cả các loại sản phẩm trên. Có cả những người thợ đã nay đây mai đó và cũng đã xuất hiện các làng chuyên. Có thể kể đến các làng Thái Tuyến (nay thuộc huyện Vụ Bản), làng Kinh Thanh (nay thuộc xã Yên Thọ, huyện Ý Yên), làng Nam Lạng (nay thuộc huyện Trực Ninh)./.

  8. #8
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Nghề đan lát


    Đan lát là nghề khá phổ biến. Có thể nói ở bất cứ làng quê nào, hễ có tre, có mây là có người biết đan lát. Nhưng đan lát với ý nghĩa là một nghề thì chỉ tập trung ở một số làng.



    Đan lát là nghề khá phổ biến. Có thể nói ở bất cứ làng quê nào, hễ có tre, có mây là có người biết đan lát. Nhưng đan lát với ý nghĩa là một nghề thì chỉ tập trung ở một số làng. Tính chất nguyên đó còn thể hiện ở một chỗ làng thường nổi tiếng với một loại sản phẩm như:
    - Nghề đan thúng ở Vân Đồn (vốn là Bảo Đồn, thuộc tổng Hư Tả, sau đổi thành tổng Giang Tả, huyện Thượng Nguyên, nay thuộc xã Nghĩa An, huyện Nam Trực), làng Trung Lao (thuộc tổng Trung Lao, huyện Nam Chân, sau thuộc tổng Thần Lộ, huyện Trực Ninh, nay thuộc xã Trung Đông, huyện Trực Ninh).
    - Nghề đan mành ở Đỗ Xá
    - Nghề đan gối mây ở làng Thuận An nay thuộc huyện Xuân Trường
    - Nghề làm lồng bàn ở làng Quần Hàn (sau đổi thành Lương Hàn, thuộc tổng Quần Lãng, sau đổi là tổng Văn Lãng, huyện Nam Trực nay thuộc huyện Trực Ninh)
    Bên cạnh những mặt hàng tiêu biểu trên, các làng này còn có thể sản xuất được hầu hết các sản phẩm của nghề đan
    Nghề đóng cối xay
    Đóng cối xay là nghề phát đạt trước đây do nhu cầu lớn, hầu như gia đình nông dân nào cũng phải có một cái cối xay. Có hai loại cối: Cối đất và cối tre. Cối tre bền hơn nhiều so với cối đất, tuy nhiên giá thành cối tre thường đắt hơn nhiều lần so với cối đất. Người biết đóng cối không ít, nhưng đóng được cái cối tốt khi xay phải êm, gạo trấu ra đều bốn góc và còn rất ít hạt thóc. Thợ đóng cối xay nổi tiếng ở Nam Định chỉ có ở làng Bình Lương (thuộc tổng Bình Lương, huyện Ý Yên). Làng này nổi tiếng không chỉ bởi những người thợ giỏi, mà còn vì rất nhiều người, gia đình sống bằng nghề đóng cối xay, cha truyền con nối qua nhiều thế hệ
    Nghề vàng mã
    Tục đốt vàng mã kéo theo nghề vàng mã. Nghề này phát triển ở các làng An Trung Thượng (nay thuộc xã Yên Đồng huyện Ý Yên)

    (Nguồn Địa chí Nam Định)

  9. #9
    admin is offline Senior Member
    Tham gia ngày
    Aug 2008
    Bài gửi
    6,373
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Nghề làm nón lá ở Nghĩa Châu


    Xã Nghĩa Châu (Nghĩa Hưng) từ lâu đã nổi tiếng với nghề làm nón lá. Nón lá Nghĩa Châu trước đây đã có mặt ở thị trường nhiều tỉnh, thành trong nước, nay đã xuất khẩu sang các nước Lào, Thái Lan, Campuchia.



    Năm nay cơ sở chuyên thu mua nón lá của gia đình anh Ngô Duy Thăng ở thôn Đào Khê Thượng, lần đầu tiên xuất khẩu được nón lá sang Lào theo hợp đồng anh đã ký kết trong năm 2006. Từ 15 năm nay, gia đình anh Thăng đã chuyển từ nghề khâu nón sang thu mua nón của gần 200 hộ trong xã và các xã Hoàng Nam, Nghĩa Minh, Nghĩa Trung, Nghĩa Thái, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 2000 lao động với thu nhập bình quân 700 nghìn - 1 triệu đồng/người/tháng. Trung bình một năm, cơ sở của anh cung ứng cho thị trường khoảng 15 vạn chiếc nón, doanh thu đạt khoảng 600 triệu đồng, trừ chi phí, thu lãi 50 triệu đồng. Gia đình anh Vũ Trung Thông ở đội 11, thôn Đào Khê Hạ, trước đây chỉ làm nông nghiệp kết hợp khâu nón, hiệu quả kinh tế không cao. Nhờ chịu khó học hỏi, tìm kiếm thị trường, anh đã chuyển sang thu mua lá nón, cung ứng nguyên liệu. Trung bình một năm, anh cung ứng khoảng 200 tấn lá nón cho bà con trong xã và các tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, Thái Bình, doanh thu khoảng 500 triệu đồng, thu lãi 25 triệu đồng. Anh cho biết, năm 2005, anh đầu tư mua một máy vò trị giá 6,1 triệu đồng, công suất 70kg/giờ, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa giúp lá nón mềm, có độ bóng cao hơn so với vò bằng tay.
    Ở Nghĩa Châu hiện nay có 30-40 hộ chuyên thu mua và cung ứng nguyên liệu làm nón. Toàn xã có 1563 gia đình làm nón, bằng 70% số hộ và tập trung nhiều ở 2 thôn Đào Khê Thượng và Đào Khê Hạ. Năm 2006, doanh thu từ nghề làm nón lá của xã ước đạt 7,8 tỷ đồng. Mỗi năm, cả xã cung ứng hơn 2 triệu chiếc nón lá cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Chợ Đào Khê Thượng của xã có gần 1000 hộ buôn bán nón lá và nguyên liệu làm nón, chiếm 60% số hộ kinh doanh trong chợ. Làm được một chiếc nón lá ngoài yêu cầu về chất lượng các loại nguyên liệu, người thợ phải qua rất nhiều công đoạn, mỗi công đoạn luôn đòi hỏi sự khéo léo, nhất là đường kim, mũi chỉ. Mỗi ngày một người thợ có thể làm được 3-5 chiếc nón, thu nhập bình quân 20 nghìn đồng. Đồng chí Phạm Đức Vận, chủ tịch UBND xã cho biết: Để khuyến khích, mở rộng ngành nghề làm nón truyền thống, các ngành, đoàn thể trong xã đã phối hợp tổ chức được 7 lớp học nghề làm nón cho 350 thanh niên và đến nay có 1400 lượt hộ được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng NN-PTNT huyện với tổng dư nợ thường xuyên lên tới 7 tỷ đồng để phát triển kinh tế gia đình, trong đó có nghề làm nón. Từ năm 2003, triển khai dự án "Nâng cao năng lực kinh tế cho phụ nữ nông thôn" của tổ chức Quỹ châu Á, đã có 600 lượt chị em trong xã vay vốn theo phương thức trả chậm với số tiền 118 triệu đồng.
    Sản xuất phát triển, đời sống nhân dân xã Nghĩa Châu không ngừng được cải thiện. Nhiều nhà cao tầng mọc lên, đường làng, ngõ xóm phong quang, sạch đẹp. Các công trình phúc lợi công cộng như nhà văn hoá, trạm y tế… và các trường mầm non, tiểu học, THCS được xây dựng khang trang, từng bước hiện đại./.

    (Nguồn Báo Nam Định)

  10. #10
    phuongthuy's Avatar
    phuongthuy is offline Administrator
    Tham gia ngày
    Oct 2008
    Bài gửi
    2,946
    Thanks
    4
    Thanked 3 Times in 3 Posts

    Ðề: Làng nghề Nam Định

    Làng Đèn ông sao...

    Thôn Báo Đáp, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định được xem là chiếc nôi của nghề làm đèn ông sao. Nghề làm đèn tại địa phương này đã trở thành nghề phụ của cả làng từ gần 1 thế kỷ nay. Hiện, thôn Báo Đáp có hơn 300 gia đình làm đèn. Tính trung bình, mỗi vụ Trung thu, địa phương này cung cấp cho thị trường toàn quốc khoảng gần 2 triệu chiếc.

    Ảnh: vovnews

    Trung thu năm nay, cơ sở của bà Nguyễn Thị Bông, xóm 4, Báo Đáp, Hồng Quang, Nam Trực, Nam Định xuất xưởng khoảng 3 vạn chiếc đèn, bằng số lượng năm ngoái. Bà Bông cho biết: "Đèn ông sao muốn bán được phải phụ thuộc vào thời tiết, năm nay mưa quá, bán cũng khó, chi phí nguyên vật liệu cao hơn tới 30%, đèn Trung Quốc cạnh tranh nên cũng ế. Tuy nhiên vẫn phải làm, vì là nghề truyền thống...".
    Mặc dù làng nghề đã có từ lâu, nhưng đến nay, dân làng vẫn chỉ buôn bán theo hình thức ký gửi (tức là nhờ cửa hàng trên phố bán với mức giá gốc). Nếu bán hơn, lời lãi thì cửa hàng nhận. Hết rằm, đèn ế, thừa thì lại trả về cho người làm. Trong khi giá gốc chỉ có 1.500đ/chiếc loại nhỏ và 2.000đ/chiếc loại to, thì trên thị trường, đôi khi 1 chiếc đèn ông sao có giá gấp 10 lần như thế.

    Ông Vũ Văn Kháng, Nam Trực, Nam Định: "Không làm đèn thì làm hoa giả, làm nhựa, chúng tôi có nhiều việc để làm, nhưng vì niềm vui của con trẻ, nên vẫn cố giữ nghề này".
    Cứ đến tháng 4, cả làng Báo Đáp lại rục rịch ngâm nứa, chẻ nan. Rồi gần đến rằm Trung thu lại chở đèn đi bỏ mối tại khắp các tỉnh thành trong cả nước. Duy có một điều mà những người tâm huyết với nghề như bà Bông, ông Kháng còn trăn trở, đấy là rất ít người biết đến làng Báo Đáp khi mua đèn ông sao.
    Theo VTV

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/2 1 2 cuốicuối

Chủ đề giống nhau

  1. Nghề diễn xiếc: Nguy hiểm gấp 20 lần nghề khác
    By shinichi in forum Việc tìm người
    Trả lời: 0
    Bài mới: 21-11-2009, 12:31 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới: 28-10-2008, 03:00 PM
  3. Sở khoa học công nghệ Nam Định tổ chức hội nghị
    By admin in forum Khoa học công nghệ Nam Định
    Trả lời: 0
    Bài mới: 06-10-2008, 10:47 AM

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts

LinkBacks Enabled by vBSEO