Làng xưa Nam Định (Phần 5 - hết)
Còn cư dân làng Năng Tĩnh thì bị đẩy lùi mãi vào phía tây nam. Đây là người của 4 dòng họ: Nguyễn, Đặng, Phạm, Trần. Nhưng lớn nhất là họ Trần. Họ Trần chia làm 8 giáp lấy tên đệm khác nhau để dễ phân biệt như: Trần Đăng, Trần Trọng, Trần Duy, Trần Đại, Trần Tam, Trần Viết, Trần Văn, Trần Quang. Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc họ Trần, những cư dân xa xưa trên mảnh đất cổ này. Phần lớn dân làng cho rằng họ Trần ở đây vốn dòng dõi nhà Trần quê hương Tức Mặc di dần về đây lập làng. Có người lại nói xưa kia người làng phần lớn họ Nguyễn, họ Đặng. Về đời Trần, dân làng có công đào sông Vị Hoàng, xây dựng Bến Ngự nên vua Trần đã “ân ban tứ tính” nghĩa là vua ban cho dân làng đặc ân được mang họ nhà vua, họ Nguyễn, họ Đặng được đổi thành họ Trần. Một thuyết khác cho rằng họ Trần trước là họ Mạc. Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê từ năm l527. Qua 10 đời vua, năm 1688, Mạc Kính Vũ đã thất thủ chạy lên Cao Bằng. Con cháu họ Mạc ẩn náu khắp nơi. Có người trốn về Năng Lự lập nghiệp đổi họ là Trần. Lại có người cho rằng: không biết từ năm tháng nào, vào thời kỳ nhà Trần mới khai sáng, ba ông có tên ông Cây, ông Cội, ông Cành đến đây khai phá lập làng. Gặp khi vua Trần chạy giặc đến đây, không may thuyền gặp rây mắc cạn. Ba ông cứu thuyền, hộ giá khỏi cạn. Giặc tan, vua trở về, nhớ tới 3 ông phong cho ba ông tước Dũng giang hầu. Khi 3 ông mất, dân làng lập đền thờ ở đền Từ Ô, phố Hàng Nồi. Sau này, nhà Nguyễn xây thành, thực dân Pháp cướp đất, dân làng chuyển dần vào phía nam lập thôn xóm, đình làng cũng chuyển đi.
Dân làng Năng Tĩnh xưa vốn lao động chuyên cần lấy nghề nông làm chính. Nhưng đây là mảnh đất phải đương đầu nhiều với sóng gió trong sự đổi thay của lịch sử nên dân thường phải luyện võ và từ đó có những lò võ nổi tiếng. Vl thời Lê - Trịnh, dân đói khổ vì vỡ đê, lụt lội. Các ông đội Châu, cai Cư, cai Roanh thuộc quân doanh Vị Hoàng đã theo Nguyễn Huệ diệt phá quân Trịnh (1786). Về đời Nguyễn, từ lò võ Năng Tĩnh đã có người đỗ cử nhân võ như cụ Trần Đăng Rĩnh, dân còn gọi là cụ cử Tuyền. Năm 1858, khi giặc Pháp đổ bộ xuống bán đảo Sơn Trà, cụ cử Rĩnh đã huấn luyện 40 nghĩa binh và dẫn đầu anh em tham gia đoàn nghĩa quân của cụ Phạm Văn Nghị đi vào Huế xin triều đình cho đánh giặc. Việc không thành, nhưng từ triều đình Huế trở về, cụ được sung chức Huấn đạo võ sư của huyện Mỹ Lộc. Nhớ công cụ, 10 năm sau, tổng đốc Nguyễn Trùng Hợp bình công đã xin đổi cụ sang Văn ban để tỏ lòng tôn trọng, biết ơn. Dân làng Năng Tĩnh đã không thiếu mặt trong hai cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Nam năm 1873 và 1883 chống thực dân Pháp xâm lược. Bà con đã cùng quan quân giữ mặt thành phía nam. Năm 1883 khi thành đã mất, giặc Pháp còn bị nghĩa quân Năng Tĩnh giữ vào làng tiêu diệt hàng chục tên, sau đó theo nghĩa quân đánh Pháp mãi tới năm 1898. Ngày 5-12-1898, giặc Pháp bất ngờ ập vào làng bắt chém một lúc 25 người. Trong thời gian đó, hai ông Trần Đăng Cương, Trần Duy Rực đã theo cụ nghè Giao Cù Vũ Hữu Lợi chống Pháp. Hai ông chỉ huy quân từ Búng Quán (Thái Bình) xuống đến Liễu Đề (Nghĩa Hưng). Cụ nghè Giao Cù bị bắt và bi xử tử. Hai ông đã đi tìm tổng đốc Đào Trọng Đủ, kẻ đồng mưu với án sát Vũ Văn Báo bắt cụ nghè Giao Cù, có ý định trả thù cho cụ Nghè. Không may, hai ông đều bị bắt và bị xử tử theo. Trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục, dân làng đã hưởng ứng cuộc vận động không đi học chữ Tây và từ năm 1906, nhiều nhà nho trong làng bỏ không đi thi hương dù trường thi ở ngay tại xã. Nhà nước bảo hộ bắt buộc mỗi xã phải có một người đi học chữ Tây. Các cụ tìm một con nhà nghèo cấp tiền cho ăn học. Sau này người đó làm thông phán cho Pháp đó là cụ Phán Chương. Có một thời bọn giáo sĩ phương Tây cậy thế lực Pháp bắt dân xây nhà thờ An Tong (Antoine) ở bờ sông. Gần ngay đấy về phía chợ là nhà thờ Kim Phò. Mặc dù bị mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa, dân làng không mấy ai chịu theo đạo. Nhà thờ vắng con chiên, chỉ còn là nơi trú ngụ của một số người nghèo khổ, tàn tật đi hành khất. Đến kháng chiến, nhà thờ đổ xuống sông do đất lở. Nay chỗ đó là bãi than.
Dân làng Năng Tĩnh nghèo:
“Năng Tĩnh là đất có ma
Khi vào có áo, khi ra mất quần”
Ý nói người giàu cũng không bền. Đã thế, bà con còn bị khổ vì bọn cường hào như lý Chanh, chánh hội Sen, phó lý Dĩnh, trưởng phố Kỳ và Xưởng chuyên đục khoét, đàn áp nhân dân nên bà con đã kể tội:
“Bao giở Chanh cỗi, Sen tàn
Dĩnh siêu, Xưởng đổ thì làng mới yên”
Có người sửa: “Xương siêu, Kỳ nát...” Đến thời Pháp thuộc, mất ruộng đất, mất nhà, dân làng cùng đường phải vào làm nhà máy kiếm sống. Từ năm 1900 đến năm 1924, bọn chủ bắt công nhân làm mỗi ngày 14 giờ (từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối).
“Bốn giờ cắp nón đi ca
Mặt chó chẳng biết, mặt gà cũng không”
Đã thế, còn phải:
"Suốt ngày làm chẳng ngơi tay
Mà roi vẫn tới tấp bay trên đầu”
Cùng với đội ngũ công nhân nhà máy, những người thợ quê Năng Tĩnh, với truyền thống bất khuất, tham gia đấu tranh quyết liệt chống bọn chủ, giành được ngày làm 8 giờ, chống cúp phạt lương, đánh đập, đàn áp công nhân. Có người đã bỏ quê ra đi tìm đường cứu nước như Nguyễn Thành Thuyết và đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930. Những người dân Năng Tĩnh đi lên từ những cuộc đấu tranh trong trường kỳ lịch sử. Mảnh đất này lại chứng kiến những trận chiến đấu anh dũng chống thực dân Pháp vào những ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946, góp phần bao vây giặc Pháp ở trong trại Carô suốt 86 ngày đêm, và sau này đã là một vùng địch hậu kiên cường.
Trung kiên trong đấu tranh, nhưng thuần hậu nhân nghĩa trong tình làng nghĩa xóm, dân làng phần lớn theo đạo Phật. Chùa thôn Đông (nay là chùa cụ Phán Chương) to hơn cả. Chùa thôn Tây ở giữa phố Năng Tĩnh và chợ Năng Tĩnh nay đã mất, chỉ còn trơ lại 4 bia đá. Phía nam có chùa Rào (gần nhà máy đóng tàu l-5). Tương truyền: một năm lụt to có pho tượng trôi giạt vào bờ sông. Lũ trẻ chăn trâu vớt lên rồi lấy tre làm rào và chơi trò cúng lễ. Dân làng cho là thiêng, dựng chùa thờ Phật. Từ đó có chùa Rào. Đến kháng chiến chống Pháp, chùa bị lở xuống sông.
Thời nhà Nguyễn, đất làng bị chiếm xây thành. Dân làng Năng Tĩnh lui dần về phía nam dựng làng mới, xóm mới, nhưng vẫn giữ hương đẳng với tục lệ cổ truyền: tổ chức mừng thọ cho các cụ từ 50 tuổi trở lên, mùa xuân làm cỗ “yến lão” và vẫn ăn chịu đóng góp chung một đình làng. Đình làng xưa kia thờ 3 ông Dũng Giang hầu làm Thần Hoàng ở đền Từ Ô, phố Hàng Nồi. Làng lui vào phía trong lập đền mới trên nền nhà cũ của ông nghè Trần Xuân Vinh. Ông Trần Xuân Vinh hay Lịch đậu Nhị giáp tiến sĩ khoa Kỉ Vị năm Cảnh Thống thứ 2 (1499) làm quan đến Cấp sự trung, thụy là Lý Uẩn tiên sinh. Khi ông mất, dân làng tôn sùng ông, lập đền thờ.
Nay đình làng đưa Thần Hoàng về nơi mới có xây hai dải vũ hai bên, thờ tả văn hữu võ. Văn đây có thể hiểu là làng thờ ông Trần Xuân Vinh. Còn bên võ, có thể dân làng thờ bà Hậu Cháo, người đã có công bỏ gạo cứu dân trong lúc đói, dân làng nhớ ơn lập đền thờ.
Làng Năng Tĩnh xưa là như thế. Một làng cổ, dân nghèo nhưng trọng nhân nghĩa, kiên trung, bất khuất. Nay Năng Tĩnh đã thành một khu dân cư sầm uất, trù phú của thành phố. (Viết theo tư liệu cua cụ Trần Trọng Biền, công nhân và là nhà thơ, người làng Năng Tĩnh) .
(Nguồn Vhnd.thitruongnamdinh.com)